Chương trình đào tạo
Các khóa học ngắn hạn
Các khóa học dài hạn
Lịch tuyển sinh
Đăng ký trực tuyến
        Tin nóng
 
         Tìm kiếm thông tin
         Hỗ trợ trực tuyến
Phòng Khoa học và Đào tạo
Bản tin Thị trường
Phòng NC Tài chính
Phòng NC Thị trường Giá cả
Phòng Hành chính Tài vụ
         Liên kết website
         Đối tác khách hàng
         Thông kê truy cập
Online: 5
Visited: 935323
 
  

 

 

Báo cáo phân tích dự báo tháng 9 năm 2020

1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)tháng 8/2020 chỉ tăng nhẹ 0,07% so với tháng Bảy – là mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020, tuy nhiên vẫn tăng 3,18%so với cùng kỳ năm trước

1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)tháng 8/2020 chỉ tăng nhẹ 0,07% so với tháng Bảy – là mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020, tuy nhiên vẫn tăng 3,18%so với cùng kỳ năm trước

1.1. Diễn biến

Theo số liệu vừa được công bố từ Tổng cục Thống kê, CPI tháng 8/2020 tăng 0,07% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu là do:

Thứ nhất, nhóm giáo dục tăng 0,18% do một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện tăng học phí năm học mới 2020-2021theoNghị định 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ, giá các mặt hàng sách vở, đồ dùng học tập cũng tăng do nhu cầu mua sắm để chuẩn bị cho năm học mới.

Thứ hai,nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,11%, trong đó lương thực tăng nhiều nhất 0,6% do ảnh hưởng của cơn bão số 2 và mưa trên diện rộng làm giá rau tăng; giá gạo trong nước tăng do giá gạo xuất khẩu của Việt Nam thuận lợi đạt ở mức cao trong nhiều năm trở lại đây.

Bên cạnh đó, các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm: nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,2% do nhu cầu du lịch của người dân giảm mạnh khi dịch Covid-19 bùng phát trở lại; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,05%; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,03%.

So với cùng kỳ năm 2019, CPI tháng 8/2020 tăng ở mức 3,18%. Tính chung 8 tháng đầu năm 2020, CPI bình quân tăng 3,96% so với bình quân cùng kỳ năm 2019. Tuy nhiên, chỉ số giá tiêu dùng tháng 8/2020 vẫn giảm 0,12% so với tháng 12/2019 - mức thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020.

 

CPI tháng 8/2020 so với

CPI bình quân 8 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ năm 2019

Tháng 7
năm 2020

Tháng 12
năm 2019

Tháng 8 năm 2019

Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng

+0,07%

-0,12%

+3,18%

+3,96%

Nguyên nhân chính khiến CPI tháng 8/2020 vẫn tăng cao so với cùng kỳ năm 2019 là do:

Thứ nhất, giá lợn hơi đã giảm khá nhiều so với tháng 7/2020, tuy nhiên vẫn còn ở mức caotrong ngưỡng 81.500 - 87.000 đ/kg do dịch tả lợn châu Phi vẫn đang hoành hành chưa được kiểm soát hoàn toàn, nguồn cung vẫn đang thiếu hụt. Kết quả là, giá các mặt hàng thực phẩm vẫn tăng14,8%, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng trung bình 11,75% so với cùng kỳ năm trước.

Thứ hai, các cơ sở giáo dục vẫn đang thực hiện lộ trình tăng học phí làm cho giá dịch vụ giáo dục tháng 8/2020tăng 4,09% so với tháng 8/2019.

Về lạm phát cơ bản (theo thước đo CPI loại trừ lương thực, thực phẩm, năng lượng và mặt hàng do nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục), tháng 8/2020 tăng 2,16% so với cùng kỳ năm 2019. CPI tháng 8/2020 có mức tăng cao hơn lạm phát cơ bản, điều này phản ánh biến động giá chủ yếu là do các yếu tố phi tiền tệ như giá lương thực, thực phẩm và dịch vụ y tế, giáo dục tăng.

1.2. Dự báo

Dự báo CPI năm 2020 so với cùng kỳ năm ngoái tăng trung bình 3,5% (+-0,2%).

Tốc độ tăng CPI trung bình trong 8 tháng đầu năm 2020 chỉ ở mức 3,96%, tương đương so với mức mục tiêu đặt ra là 4%. Hơn nữa, lạm phát tháng Támhiện cũng chỉ ở mức 3,18% so với cùng kỳ năm trước và 0,07% so với tháng Bảy. Do đó, mục tiêu kiềm chế lạm phát dưới 4% trong năm 2020 hoàn toàn khả thi bởi áp lực lạm phát trong 4 tháng cuối năm không nhiều.

Thứ nhất, tình hình dịch bệnh Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp trên thế giới, do đó nền kinh tế thế giới chưa thể phục hồi hoàn toàn trong nửa cuối năm 2020, nên giá dầu sẽ khó tăng mạnh. Giá dầu thô bình quân tháng 8/2020 hiện ở mức 42,6USD/thùng và đang có dấu hiệu giảm xuống.

Thứ hai, giá thịt lợn vẫn đang ở mức cao, cho dù có thể không giảm mạnh như mong đợi, nhưng cũng sẽ khó tăng mạnh hơn nữa trong thời gian tới.

Bởi vậy, với mức lạm phát cơ bản hiện khoảng 2,16% so với cùng kỳ năm trước và do chỉ số giá tiêu dùng tháng 8/2020 chỉ tăng 0,07% so với tháng Bảy nên dự báo CPI trung bình năm 2020 sẽ xoay quanh mức 3,5% (+-0,2%)so với cùng kỳ năm 2019, khả năng hoàn thành mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới 4% của Quốc Hội là hoàn toàn khả thi.

2. Dự báog bình quân của dầu thô và xăng dầu thành phẩm thế giới tháng 9/2020sẽ giảm từ 4-7% so với tháng 8/2020.

2.1. Thị trường thế giới:

Từ tháng 8/2020Tổ chức OPEC+ đã nới lỏng các mức cắt giảm sản lượng (cắt giảm từ 9,7 triệu thùng/ngày xuống còn 7,7 triệu thùng/ngày) cho đến tháng 12/2020 do nền kinh tế toàn cầu có dấu hiệu dần hồi phục sau đại dịch Covid-19.

Tháng 8/2020 Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) điều chỉnh giảm dự báo nhu cầu dầu thô thế giới (giảm 140.000 thùng/ngày từ mức dự báo tháng trước) xuống còn 91,95 triệu thùng/ngày;dự báo nhu cầu dầu năm 2021 (giảm 240.000 thùng/ngày) xuống còn 97,1 triệu thùng/ngày…

Theo EIA dữ trữ dầu thô thương mại của Mỹ kết thúc tuần 14/8/2020 giảm 1,6 triệu thùng/ngày so với tuần trước đó, xuống còn 512,5 triệu thùng.  Nhập khẩu dầu thô của Mỹ trung bình 5,7 triệu thùng/ngày, tăng 109 nghìn thùng/ngày so với tuần trước. Trước đó, nhập khẩu dầu thô trung bình 4 tuần đạt khoảng 5,6 triệu thùng/ngày, giảm  21,7% so với cùng kỳ cùng kỳ năm 2019.

Trong tháng 8/2020, các cơn bão đổ bộ vào Vịnh Mexico cũng đã ảnh hưởng tới nguồn cung khi các nhà máy sản xuất dầu đã đóng cửa 58% sản lượng dầu ngoài khơi và 45% sản lượng khí đốt tự nhiên… khiến cho giá dầu chịu tác động tăng.

Giá dầu thô thế giới trong tháng 8/2020 tiếp tục tăng nhẹ do dữ trữ dầu thô giảm tuần thứ tư liên tiếp. Cùng với đó việc đặt kỳ vọng vắc-xin Covid-19 được tiêm trên diện rộng sẽ giúp cải thiện mạnh nhu cầu dầu. Tuy nhiên diễn biến dịch bệnh Covid-19 vẫn đang tiếp tục gia tăng tại nhiều quốc gia là một nhân tố tác động tiêu cực đối với nhu cầu năng lượng trên thị trường.

Như vậy, diễn biến này làm cho:

 - Giá dầu thô bình quân của 3 thị trường Brent, Dubai và West Texas  Intermediatetháng 8/2020 ở mức 43,44USD/thùng (tăng3,27% so với tháng 7/2020);

- Giá xăng RON 95 bình quân tại thị trường Singapore tháng 8/2020 ở mức 48,04USD/thùng (tăng3,87% so với tháng 7/2020).

2.2. Thị trường Việt Nam:

Tháng 8/2020, do giá xăng dầu thế giới biến động không nhiều nên Liên Bộ Công Thương – Tài Chính đã điều chỉnh giá xăng dầu trong nước 2 lần vào ngày 12/8 và 27/8/2020 theo hướng giữ gần như ổn định giá bán lẻ. Cụ thể, giá bán lẻ một số mặt hàng xăng dầu được điều chỉnh như trong bảng 1.

Bảng 1: Giá xăng dầu bán lẻ tại vùng 1 tháng 8/2020

 

Xăng RON 95-III (đồng/lít)

Xăng E5 RON 92-II (đồng/lít)

Dầu hỏa (đồng/lít)

Dầu Diesel 0,05S-II (đồng/lít)

Dầu Mazut 3,5S (đồng/kg)

Mức giá từ ngày 28/7/2020

14.970

14.400

10.270

12.390

11.180

Mức giá từ ngày 12/8/2020

14.920

14.400

10.200

12.200

11.180

Mức giá từ ngày 27/8/2020

15.110

14.400

10.120

11.960

11.180

Mức giá ngày 12/8 so với 28/7/2020

Số tuyệt đối

-50

0

-70

-190

0

%

-0,33

0,00

-0,68

-1,53

0,00

Mức giá ngày 27/8 so với 12/8/2020

Số tuyệt đối

190

0

-80

-240

0

%

1,27

0,00

-0,78

-1,97

0,00

Mức giá ngày 28/8 so với 28/7/2020

Số tuyệt đối

140

0

-150

-430

0

%

0,94

0,00

-1,46

-3,47

0,00

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Petrolimex

Như vậy, giá xăng dầu vùng 1 được điều chỉnh vào ngày 27/8/2020 như sau: giá xăng RON 95-III là 15.110VND/lít (tăng 140VND/lít, tương đương 0,94%so với cuối tháng 7/2020); giá xăng E5 RON 92-II là 14.400VND/lít (không đổi); dầu hỏa là 10.120VND/lít (giảm150VND/lít, tương đương 1,46%); dầu Diesel 0,05S-II là 11.960VND/lít (giảm 430VND/lít, tương đương 3,47%); dầu Mazut 3,5S là 11.180VND/kg (không đổi)…

Cùng với việc điều chỉnh giá xăng dầu, Liên Bộ Tài chính - Công Thương đã thực hiện mức trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu trong tháng 8/2020 như được nêu cụ thể ở bảng 2 và 3.

Bảng 2: Mức trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu tháng 8/2020

 

Xăng các loại (trừ xăng sinh học, đồng/lít)

Xăng E5 (đồng/lít)

Dầu hỏa (đồng/lít)

Diesel (đồng/lít)

Mazut các loại (đồng/kg)

Mức trích từ ngày 28/7/2020

200

100

300

500

300

Mức trích từ ngày 12/8/2020

200

100

300

500

300

Mức trích từ ngày 27/8/2020

100

0

200

400

100

Mức trích ngày 12/8 so với 28/7/2020

Số tuyệt đối

0

0

0

0

0

%

0,00

0,00

0,00

0,00

0,00

Mức trích ngày 27/8 so với 12/8/2020

Số tuyệt đối

-100

-100

-100

-100

-200

%

-50,00

-100,00

-33,33

-20,00

-66,67

Mức trích ngày 27/8 so với 28/7/2020

Số tuyệt đối

-100

-100

-100

-100

-200

%

-50,00

-100,00

-33,33

-20,00

-66,67

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Liên Bộ Tài chính - Công Thương

Bảng 3: Mức chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu tháng 8/2020

 

Xăng các loại (trừ xăng sinh học, đồng/lít)

Xăng E5 (đồng/lít)

Dầu hỏa (đồng/lít)

Diesel (đồng/lít)

Mazut các loại (đồng/kg)

Mức chi từ ngày 28/7/2020

479

900

100

0

100

Mức chi từ ngày 12/8/2020

479

932

100

0

300

Mức chi từ ngày 27/8/2020

670

1.295

0

0

453

Mức chi ngày 12/8 so với 28/7/2020

Số tuyệt đối

0

32

0

0

200

%

0,00

3,56

0,00

0,00

200,00

Mức chi ngày 27/8 so với 12/8/2020

Số tuyệt đối

191

363

-100

0

153

%

39,87

38,95

-100,00

0,00

51,00

Mức chi ngày 27/8 so với 28/7/2020

Số tuyệt đối

191

395

-100

0

353

%

39,87

43,89

-100,00

0,00

353,00

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Liên Bộ Tài chính - Công Thương

Như vậy so với cuối tháng 7/2020, trong tháng 8/2020 liên bộ giảm mức trích lập Quỹ bình ổn giá đối với xăng, dầu các loại; tăngkhá mạnh chi sử dụng quỹđối với xăng, dầu các loại (chỉ giảm chi sử dụng quỹ đổi với dầu hỏa). Việc điều hành này đã giúp ổn định giá bán lẻ xăng dầu trong nước (trong khi giá thị trường thế giới vẫn biến động theo xu hướng tăng).

Ước tính số dư Quỹ bình ổn giá xăng dầu đến hết ngày 31/8/2020 đạt khoảng 9.890 tỷ đồng (giảm0,92% so với số dư quỹ tính đến hết ngày 30/6/2020; giảm0,40% so với số dư quỹ tính đến hết ngày 31/7/2020). Việc giảm mức trích lập, tăng chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng, dầu như vậy sẽ có tác dụng hỗ trợ đối với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nhằm khắc phục các tác động xấu của đại dịch Covid-19, giúp kinh tế Việt Nam tăng trưởng tốt hơn...

Dự báo: Tháng 9/2020 thị trường xăng dầu thế giới chịu áp lực giảm giá trong bối cảnh áp lực dư cung ngày càng lớn. Cụ thể:

(i) Trung Quốc (quốc gia tiêu thụ dầu thô hàng đầu thế giới) đã giảm lượng tiêu thụ vào tháng 8/2020 và tăng xuất khẩu dầu trong nước.

(ii) Căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc vẫn đang “nóng” lên từng ngày sau tuyên bố có thể cắt đứt quan hệ kinh tế với Trung Quốc, đe doạ trừng phạt các công ty Mỹ tạo việc làm bên ngoài nước Mỹ… của Tổng thống Donald Trump. Điều này sẽ không có lợi cho thương mại toàn cầu, làm cho giá dầu giảm.

(iii) Diễn biến của dịch Covid-19 tiếp tục gia tăng tại nhiều quốc gia cũng là tác nhân đẩy nhu cầu xăng dầu giảm.

(iv) Nhà xuất khẩu dầu hàng đầu thế giới Saudi Arabia giảm giá bán chính thức trong tháng 10/2020 đối với dầu thô Arab Light mà nước này bán cho châu Á với mức giảm mạnh nhất kể từ tháng 5/2020 do nhu cầu vẫn yếu…

Do vậy, dự báo giá xăng dầu tháng 9/2020 sẽ còn biến động mạnh theo xu hướng giảm và mức giá bình quân tháng 9/2020 có thể sẽ giảm từ 4-7% so với tháng 8/2020.

3. Dự báo giá lợn hơi tháng 9/2020 sẽ giảm xuống mức 78.000 – 84.000 VND/kg.

Trong tháng 8/2020, giá lợn hơi cả nước biến động giảm, nhưng vẫn ở mức cao, trong ngưỡng 81.500 - 87.000 đ/kg.

Bảng 4: Giá lợn hơi ở Việt Nam tháng 8/2020 (VND/kg)

Khu vực

T8/2020

So với T7/2020

So với T8/2019

Miền Bắc

82.000 – 87.000

-6.500

+ 39.500

Miền Nam

81.500 –86.500

- 3.500

+ 44.500

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu vinanet.vn và nhachannuoi.vn

+ Tại miền Bắc:giá lợn hơi trung bình khoảng 82.000-87.000 VND/kg, giảm6.500 VND/kg so với tháng 7/2020.

+ Tại miền Nam:giá lợn hơi trung bình dao động 81.500-86.500 VND/kg, giảm 3.500 VND/kg so với tháng 7/2020.

Nguyên nhân:Sau khi thực hiện phương án nhập khẩu lợn sống từ Thái Lan và công tác tái đàn an toàn sinh học, giá lợn hơi đã giảm khá nhiều so với tháng 7/2020. Tuy nhiên, giá lợn hơi vẫn còn ở mức cao, do dịch tả lợn châu Phi vẫn đang hoành hành chưa được kiểm soát hoàn toàn.

Dự báo: Giá lợn hơi tháng 9/2020 có thể sẽ dao động trong khoảng 78.000 – 84.000 VND/kg.

4. Dự báo tháng 9/2020 so với tháng 8/2020, glúa gạo xuất khẩu sẽ tăng từ 1-4%, còn giá lúa gạo ở thị trường trong nước cũng biến động theo xu hướng này.

4.1. Giá xuất khẩu:

Tháng 8/2020, giá gạo của một số nước xuất khẩu lớn có diễn biến tăng.Cụ thể, giá gạo của một số nước được phản ánh như trong bảng 5 và đồ thị 5.

Bảng 5: Giá bình quân xuất khẩu gạo 5% tấm của Thái Lan, Ấn Độ và Việt Nam          tháng 8/2020

 

Gạo 5% tấm Thái Lan (USD/tấn)

Gạo 5% tấm

Ấn Độ (USD/tấn)

Gạo 5% tấm Việt Nam (USD/tấn)

Giá bình quân tháng 8/2019

410

375

340

Giá bình quân tháng 7/2020

460,3

379,5

444

Giá bình quân tháng 8/2020

489

384

481

Mức giá T8/2020 so với T7/2020

Số tuyệt đối

         + 28,7

+ 4,5

+37

%

+ 6,24

+ 1,19

+ 8,33

Mức giá T8/2020 so với T8/2019

Số tuyệt đối

+79

+ 9

+ 141

%

+19,27

+ 2,4

+ 41,47

Nguồn: Tính toán từ số liệu của FAO và Reuters

Nguyên nhân:

+ Tại Thái Lan, giá gạo xuất khẩu tháng 8/2020 tăng 6,24% so tháng 7/2020do lượng mưa năm nay ở các khu vực trồng lúa không ổn định, gây lo ngại giảm năng suất trong vụ 2020/21. Các thương gia cảnh báo sản lượng vụ lúa phụ năm nay không nhiều.

+ Tại Ấn Độ, giá gạo xuất khẩu tháng 8/2020 tăng 1,19% so với tháng 7/2020 do khách hàng Châu Phi tăng cường mua gạo trong khi giá gạo Thái Lan và Việt Nam ở mức cao.Lũ lụt cũng hạn chế hoạt động xay xát gạo ở nước này, do đang mùa mưa nên cũng làm giá gạo tăng.

+ Tại Việt Nam,giá gạo xuất khẩu tháng 8/2019 tăng 8,33% so với tháng 7/2020 do nguồn cung trong nước khan hiếm và phải tập trung hoàn thành những hợp đồng đã ký với Malaysia, Philippines và Cuba trong bối cảnh nhu cầu từ Trung Quốc sẽ tăng lên do hậu quả của lũ lụt.

4.2. Giá lúa gạo tại Việt Nam:

Trên thị trường nội địa tháng 8/2020, giá cácloại lúa, gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có diễn biến giá tăng, giảm trái chiều so với tháng 7/2020. Theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương, tại An Giang, lúa IR50404 ở mức 6.000 - 7.000đ/kg, (tăng 360 – 1.160 đ/kg); gạo thường ở mức 10.800 – 11.500đ/kg (tăng 100đ/kg); gạo thơm đặc sản jasmine ở mức 14.500 – 15.500đ/kg (giảm 100 đ/kg). Riêng gạo hạt dài ở mức 18.000 – 19.000đ/kg,không thay đổi so với tháng 7/2020.

Bảng 6: Giá một số loại lúa gạo tại An Giang tháng 8/2020 (VND/kg)

Loại lúa gạo

Giá T8/2020

So với T7/2020

So với T8/2019

Lúa IR 50404 (lúa khô)

6.000–7.000

+760

+1.800

Gạo IR50404

10.800 – 11.500

+100

+ 650

Gạo chất lượng cao

18.000 – 19.000

-

+ 5.500

Gạo thơm jasmine

14.500 – 15.500 

-100

+1.000

Nguồn: Tổng hợp số liệu của Bộ NN&PTNN và thitruongnongsan.gov.vn

Dự báo: Trong tháng 9/2020, trên thị trường gạo châu Á,giá gạo có thể tăngtừ 1-4% do ảnh hưởng từ thời tiết không thuận lợi và dịch Covid-19 diễn biến phức tạp. Tại thị trường trong nước,giá lúa, gạo có thể tăng nhẹ do thu hoạch vụ Hè Thu đã xong và ảnh hưởng phức tạp từ dịch Covid -19...

5. Dự báo tháng9/2020 so tháng8/2020,giá cà phê thế giới có thểtăng 3-5%, giá cà phê nội địa Việt Nam sẽ tăng nhẹ.

5.1. Thị trường thế giới

Tháng 8/2020, giá cà phê Robusta và Arabica có diễn biến tăng, cụ thể:

- Tại sàn giao dịch London, giá cà phê Robusta bình quân tháng 8/2020 ở mức 1.385 USD/tấn(tăng 8,46% so tháng 7/2020);

- Tại sàn giao dịch ICE New York, giá cà phê Arabica bình quân tháng 8/2020 ở mức 2.626 USD/tấn (tăng 9,55% so tháng 7/2020).

5.2. Thị trường Việt Nam

Thị trường Việt Nam tháng 8/2020, giá cà phê có xu hướng tăng. Giá cà phê Robusta ở khoảng 33.300 –33.900 VND/kg (tăng 1.700– 1.800 VND/kg so với tháng 7/2020); giá xuất khẩu cà phê bình quân tháng 8/2020 ước đạt mức 1,791 USD/kg (tăng 0,9% so với tháng 7/2020 và tăng 5,85% so với tháng 8/2019).

Nguyên nhân:Giá cà phê toàn cầu tăng do nhu cầu mua cao trong khi lượng hàng lưu kho lại giảm. Bên cạnh đó, dự báo về sản lượng cà phê của Việt Nam niên vụ 2020/21 giảm cũng là yếu tố hỗ trợ giá tăng.

Nguồn cung cà phê trong nước hạn chế và các chính sách giãn cách xã hội để chống Covid-19 tại một số khu vực trồng cà phê trọng điểmlà nguyên nhân khiến giá cà phê tại thị trường nội địa tăng trong tháng 8/2020...

Dự báo:Trong tháng 9/2020, giá cà phê trên thị trường thế giới có thể tiếp tụctăng 3-5% so với tháng 8/2020 do nguồn cung cà phê giảm. Tại Việt Nam, giá cà phê có thể tăng nhẹ do diễn biến giá chung trên thị trường cà phê thế giới và nguồn cung khan hiếm.

6. Dự báo giá cao su tháng 9/2020 có thể tiếp tục tăng từ3-5% so với tháng 8/2020.

6.1. Thị trường thế giới

Tháng 8/2020,giá cao su TSR20 bình quân trên sàn giao dịch SGX/SICOM (Singapore) tăng lên mức 1.678 USD/tấn (tăng 13,07% so tháng 7/2020; giá cao su RSS3 bình quân trên sàn giao dịch SICOM tăng lên mức 1.295 USD/tấn (tăng 8,46 % so tháng 7/2020).

6.2. Thị trường Việt Nam

Ở Việt Nam, giá mủ cao su nguyên liệu trong tháng 8/2020 có diễn biến tăng: Công ty TNHH MTV Tổng Công ty Cao su Đồng Nai trong tháng 8/2020 đã thu mua mủ cao su (loại mủ chén, khô) với giá trung bình là 9.890VND/kg tăng 3,02% so với tháng 7/2020.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, giá cao su xuất khẩu của Việt Nam tháng 8/2020 trung bình đạt 1,21 USD/kg (tăng 0,4% so với tháng 7/2020 và giảm 11,03% so với tháng 8/2019).

Nguyên nhân:Giá cao su thế giới tăng do hoạt động kinh tế tại Trung Quốc, Hoa Kỳ và các nước tiêu thụ lớn khác dần cải thiện và nhiều hãng ô tô phục hồi sản xuất.

Ở thị trường Việt Nam,giá cao su nguyên liệu cũng tăng theo xu hướng chung của giá cao su thế giới, do được hỗ trợ bởi các thông tin kinh tế tích cực từ Mỹ, Trung Quốc và thị trường kỳ vọng chính phủ Nhật Bản tăng cường kích thích kinh tế. Mưa lớn tại nhiều bang trồng cao su của Ấn Độ khiến hoạt động khai thác mủ gián đoạn cũng là yếu tố hỗ trợ giá cao su tăng…

Dự báo: Hiệp hội Các nước sản xuất Cao su tự nhiên (ANRPC) dự báo tiêu thụ cao su tự nhiên toàn cầu trong giai đoạn từ tháng 8-10/2020 sẽ tăng 2,6% so với cùng kỳ năm 2019 do hoạt động kinh tế tại Trung Quốc, Mỹ và các nước tiêu thụ lớn khác dần cải thiện.Trong khi đó, sản lượng cao su tự nhiên toàn cầu từ tháng 7-10/2020 dự báo giảm 2,4% so với cùng kỳ năm 2019. Nhu cầu tăng trong khi sản lượng giảm sẽ tiếp tục đẩy giá cao su tự nhiên đi lên… Do vậy, dự báo giá cao su tự nhiên trong tháng 9/2020 có thể sẽ tiếp tục tăng từ 3-5% so với tháng 8/2020.

7. Lãi suất trong tháng 9/2020tiếp tục xu hướng giảm nhẹ do ảnh hưởng của dịch Covid-19.

7.1. Thế giới

Với tín hiệu tích cực từ đà phục hồi của một vài nền kinh tế lớn trong tháng 8/2020 điển hình làTrung Quốc, Ngân hàng Trung ương các nước nhìn chung vẫn giữ nguyên các mức lãi suất cơ bản trong tháng 8/2020như các tháng trước nhằm tránh gây ra tâm lý hoang mang cho giới đầu tư, ảnh hưởng tiêu cực đến việc phục hồi nền kinh tế. Và mức lãi suất thấp như hiện nay nhiều khả năng sẽ được duy trì ổn định trong các tháng cuối năm.

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) không đưa ra sự điều chỉnh nào liên quan điều hành lãi suất sau cuộc họp ngày 27/8mặc cho chủ trương để lạm phát tăng lên trên 2% trong thời gian nhất định. Lãi suất điều hành mục tiêu vẫn được giữ nguyên ở mức 0-0,25%và dự báo mức này sẽ được duy trì cho tới ít nhất là năm 2022 do tác động mạnh của dịch Covid-19 đến các chỉ số kinh tế vĩ mô như tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp cả trong ngắn hạn và dài hạn.

Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cũng không đưa ra động thái điều chỉnh lãi suấtnào trong tháng 8/2020. Lãi suất cơ bản, lãi suất chủ chốt vẫn được duy trì ổn định lần lượt là 0,25%/năm và -0,5%/năm như tháng 7/2020 nhằm giúp duy trì chi phí đi vay của các doanh nghiệp và người tiêu dùng ở mức tương đương giai đoạn trước khi dịch Covid-19 bùng phát.

Tại châu Á, ngày 17/8, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBoC) thông báo giữ nguyên lãi suất cho vay cơ bản (LPR) đúng như kỳ vọng của thị trường, trong bối cảnh nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đang phục hồi sau dịch Covid-19. Theo đó, lãi suất cho vay cơ bản kỳ hạn một năm (LPR) được giữ nguyên ở mức 3,85%, trong khi LPR kỳ hạn năm năm vẫn ở mức 4,65%, lãi suất cho các khoản vay MLF kỳ hạn một năm đối với các tổ chức tài chính vẫn ở mức 2,95%. Đây là tháng thứ tư liên tiếp PBoC giữ nguyên các loại lãi suất tham chiếu này.

7.2. Việt Nam

Tác động của việc các ca lây nhiễm Covid-19 xuất hiện trở lại trong cộng đồng nhiều khả năng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến triển vọng kinh doanh, khiến cho lãi suất tháng 8/2020 tiếp tục xu hướng giảm.

Trước tiến triển tích cực của tình hình kinh tế vĩ mô trong 8 tháng đầu năm 2020, lãi suất điều hành trong tháng 8/2020 được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) giữ ổn định như các mức tương ứng trong tháng 7/2020. Cụ thể:

-         Lãi suất tái cấp vốn giữ ở mức4,50%/năm;

-         Lãi suất tái chiết khấu giữ ở mức 3,00%/năm;

-         Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng giữ ở mức5,50%/năm;

-         Lãi suất chào mua giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mởgiữ ở mức 3,00%/năm.

Trong khi đó, mức lãi suất với tiền gửi dự trữ bắt buộc, lãi suất tiền gửi của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Quỹ tín dụng nhân dân và Tổ chức tài chính vi mô tại NHNN, Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại NHNN được NHNN điều chỉnh giảm theo các Quyết định 1349/QĐ-NHNN, 1350/QĐ-NHNN, 1351/QĐ-NHNN được ban hành và có hiệu lực kể từ ngày 6/8/2020.

Theo đó,tại Quyết định 1349/QĐ-NHNN, lãi suất đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng VND là 0,5%/năm và lãi suất đối với tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc bằng VND là 0%/năm, giảm 0,5% so với mức lãi suất trước đó được NHNN ban hành theo quyết định ký ngày 16/3/2020.

Quyết định 1350/QĐ-NHNN nêu rõ mức lãi suất tiền gửi bằng VND của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Quỹ tín dụng nhân dân và Tổ chức tài chính vi mô tại NHNN cũng giảm xuống 0,8%/năm, giảm 0,2% so với thời điểm tháng 16/3/2020.

Tại Quyết định 1351/QĐ-NHNN, mức lãi suất tiền gửi của Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại NHNN giảm còn 0,8%/năm, tương đương mức giảm 0,2% so với mức lãi suất được NHNN ban hành kèm theo quyết định được ký ngày 16/3/2020.

Lãi suất trên thị trường liên ngân hàngtháng 8/2020 tiếp tục duy trì ổn định, phổ biến dao động trong khoảng từ 0,18% đến 0,82%với các kỳ hạn qua đêm, 1 tuần và 1 tháng, trong đó lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng vọt vào phiên giao dịch cuối tháng (31/8), lên 2,32%.

Nguyên nhân chủ yếu là do: (i) thanh khoản của hệ thống vẫn ở trạngthái tích cực; (ii) ảnh hưởng từ quyết định giảm lãi suất điều hành của NHNN trong tháng 3/2020 và tháng 5/2020; và (iii) tăng trưởng tín dụng thấp khi chỉ đạt khoảng trên 4,2% trong 8 tháng đầu năm 2020.

Trước ảnh hưởng từ dịch Covid-19 và việc điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng của NHNN vào ngày 6/8/2020, lãi suất huy động bằng VNDcác kỳ hạn ngắn (1-3 tháng) tiếp tục chứng kiến đà giảm trong tháng 8/2020 (nhóm ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần gốc quốc doanh giảm 0,2% trong khi nhóm NHTM cổ phần có vốn điều lệ dưới 5.000 tỷ đồng giảm 0,08%).

Hiện lãi suất huy động các kỳ hạn dưới 6 tháng đều ở sâu dưới mức trần 4,25%. Trong khi đó, ở kỳ hạn dài (12 tháng) chứng kiến sự trái chiều giữa nhóm NHTM cổ phần gốc quốc doanh (tăng 0,2%) và nhóm NHTM cổ phần có quy mô vốn nhỏ (giảm 0,28%).

Tính chung trên toàn hệ thống, khoảng dao động phổ biến của lãi suất huy động trong tháng 8/2020 vẫm giữ ổn định như trong tháng 7/2020. Cụ thể như bảng 7 dưới đây:

Lãi suất tiền gửi của hệ thống ngân hàng thương mại tháng 8/2020

Kỳ hạn

Tháng 7/2020 (%/năm)

Tháng 8/2020 (%/năm)

Mức biến động (%/năm)

Kỳ hạn dưới 6 tháng

3,7-4,25

3,7-4,25

0,00

Kỳ hạn6 đến dưới 12 tháng

4,4-6,4

4,4-6,4

0,00

Kỳ hạn 12, 13 tháng

6,0 - 7,3

6,0 - 7,3

0,00

Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Ngân hàng Nhà nước

Tương tự như lãi suất huy động, từ đầu tháng 8/2020, hầu hết các ngân hàng, tổ chức tín dụng đều đã thông báo giảm lãi suất cho vaybằng VND đối với các khoản vay mới và cả trên dư nợ hiện hữu với mức giảm lãi suất từ 0,5 đến 2,5%/năm.

Song mặt bằng phổ biến chung lãi suất cho vay VND trên thị trường trong tháng 8/2020 giữ ổn định như tháng 7/2020, phổ biến ở mức 6,0% đến 9,0%/năm đối với ngắn hạn; 9,0% đến 11%/năm đối với trung và dài hạn. Trong khi đó, lãi suất cho vayvay ngắn hạn tối đa bằng VND của tổ chức tín dụng đối với một số ngành lĩnh vực vẫn duy trì ở mức 5,0%/năm kể từ giữa tháng 5/2020.

Lãi suất trúng thầu của trái phiếu Kho bạc Nhà nước tháng 8/2020ghi nhận sự biến động theo các kỳ hạn 5 năm, 10 năm, 15 năm, 20 năm với xu thế phần lớn đều tăng hoặc duy trì ổn định so với tháng 7/2020 trong các phiên giao dịch đầu tháng rồi giảm nhẹ trong các phiên đấu thầu vào cuối tháng (trừ lãi suất trúng thầu kỳ hạn 5 năm đều giảm so với tháng 7/2020).

Mức giảm lãi suất trúng thầu của trái phiếu Kho bạc Nhà nước trong tháng 8/2020 so với tháng 7/2020 dao động từ 0,04%đến 0,20%/năm. Trong đó, lãi suất trúng thầu tại kỳ hạn 5 năm giảm mạnh nhất với mức giảm dao động trong vùng 0,04% đến 0,20%/năm.

Lãi suất trúng thầu của trái phiếu Kho bạc Nhà nước
tháng 8/2020so với tháng 7/2020

STT

Kỳ hạn
trái phiếu

Lãi suất trúng thầu tháng 7/2020 (%/năm)

Lãi suất trúng thầu tháng 8/2020 (%/năm)

Mức biến động (%/năm)

1

5 năm

1,74 - 1,92

1,70 - 1,72

(-0,04) – (-0,20)

2

10 năm<

Trở lại
CÁC BÀI VIẾT KHÁC
40 triệu USD hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ (25/12/2010)
Các doanh nghiệp lớn ám ảnh bởi vụ Vinashin (25/12/2010)
Giá vàng và USD quay đầu giảm mạnh (22/02/2011)
Giá mặt bằng bán lẻ Hà Nội - TP HCM cùng hạ nhiệt (19/01/2011)
Vàng ‘rơi’ xuống đáy của 2 tháng (21/01/2011)
Thống đốc Ngân hàng giải trình về lãi suất, lạm phát (25/12/2010)
Vàng vượt 36,3 triệu đồng (15/02/2011)
Báo cáo tài chính nhà nước năm 2018 đang dần hoàn thiện (09/01/2020)
Mặt hàng nào giảm giá mạnh sau kì nghỉ lễ? (06/05/2011)
Nhà đất Hà Nội, Sài Gòn rục rịch giảm giá (23/05/2011)
Sữa nội vẫn chưa chịu giảm theo giá thế giới (31/05/2011)
Giảm mục tiêu tăng trưởng, nới chỉ tiêu lạm phát (06/06/2011)
Thị trường bán lẻ Việt Nam liên tiếp rớt hạng (08/06/2011)
Xe ngoại tăng mạnh trước thời điểm siết thủ tục nhập khẩu (27/06/2011)
Thu hút FDI giảm một nửa (28/06/2011)
Xem tiếp
 
 
         Tin tức & sự kiện mới
Thông báo v/v nhận Hồ sơ đăng ký xét tuyển thẳng học sinh giỏi ở bậc THPT vào đại học chính quy Học viện Tài chính năm 2020
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2019 và dự báo cả 2020.
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam 6 tháng đầu năm và dự báo cả năm 2019.
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2018 và dự báo 2019
Hội thảo Diễn biến giá cả, thị trường ở Việt Nam 6 tháng đầu năm và dự báo cả năm 2018.
Báo cáo phân tích dự báo tháng 9 năm 2020
Báo cáo phân tích dự báo tháng 8 năm 2020
Báo cáo phân tích dự báo tháng 7 năm 2020
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam 6 tháng đầu năm và dự báo cả năm 2020
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 6 năm 2020
Báo cáo tài chính nhà nước năm 2018 đang dần hoàn thiện
Thủ tướng yêu cầu các tập đoàn không đầu tư ngoài ngành
Việt Nam tụt hạng năng lực cạnh tranh
Việt Nam nợ nước ngoài 32,5 tỷ USD
Việt Nam nguy cơ rớt hạng tín nhiệm nếu lạm phát còn cao
Miễn thuế thu nhập cá nhân dưới 9 triệu đồng
Bình ổn thị trường thực phẩm tươi sống
Chính phủ đồng ý miễn thuế thu nhập cá nhân
Thu hút FDI giảm một nửa
Xe ngoại tăng mạnh trước thời điểm siết thủ tục nhập khẩu
        Email
        Hình ảnh hoạt động
Khóa học Quản trị Tài chính (từ 14-16/7/2011)
Viện kỷ niệm 86 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam
Bế giảng khóa học Quản trị Tài chính (14/5/2011)
Khóa Quản trị Công ty ngày 7-9/4/2011
Bế giảng khóa học Quản trị Công ty (9/4/2011)
Xem toàn bộ

Viện Kinh tế - Tài chính

162 Nguyễn Văn Cừ - Long Biên - Hà Nội

ĐT: 024 39334139, Fax: 024 38252475

Email: vienkttc@hvtc.edu.vn