Chương trình đào tạo
Các khóa học ngắn hạn
Các khóa học dài hạn
Lịch tuyển sinh
Đăng ký trực tuyến
        Tin nóng
 
         Tìm kiếm thông tin
         Hỗ trợ trực tuyến
Phòng Khoa học và Đào tạo
Bản tin Thị trường
Phòng NC Tài chính
Phòng NC Thị trường Giá cả
Phòng Hành chính Tài vụ
         Liên kết website
         Đối tác khách hàng
         Thông kê truy cập
Online: 3
Visited: 940904
 
  

 

 

Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 10 năm 2020

1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2020 tăng 0,12% so với tháng Tám – là mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020, tuy nhiên vẫn tăng 2,98%so với cùng kỳ năm trước

1.1. Diễn biến

Theo số liệu vừa được công bố từ Tổng cục Thống kê, CPI tháng 9/2020 tăng 0,12% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu là do:

Thứ nhất, nhóm giáo dục tăng 2,08% (trong đó, giá dịch vụ giáo dục tăng 2,29%) do nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện tăng học phí năm học mới 2020-2021, giá các mặt hàng sách vở, đồ dùng học tập cũng tăng do nhu cầu mua sắm để chuẩn bị cho năm học mới.

Thứ hai, nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,62%, chủ yếu do giá điện sinh hoạt tăng 3,23% (làm CPI chung tăng 0,11%) và giá gas tăng 0,52%.

Thứ ba,giá gạo trong nước tăng 0,71% do giá gạo xuất khẩu của Việt Nam ở mức cao nhất kể từ năm 2011 làm cho giá lương thực tăng 0,53%.

So với cùng kỳ năm 2019, CPI tháng 9/2020 tăng ở mức 2,98%. Tính chung 9 tháng đầu năm 2020, CPI bình quân tăng 3,85% so với bình quân cùng kỳ năm 2019. Tuy nhiên, chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2020 chỉ tăng 0,01% so với tháng 12/2019 - mức thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020.

Bảng 1: Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2020

 

CPI tháng 9/2020 so với

CPI bình quân 9 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ năm 2019

Tháng 8
năm 2020

Tháng 12
năm 2019

Tháng 9 năm 2019

Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng

+0,12%

+0,01%

+2,98%

+3,85%

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Nguyên nhân chính khiến CPI tháng 9/2020 vẫn tăng cao so với cùng kỳ năm 2019 là do:

Thứ nhất, giá lợn hơi cả nước đã bắt đầu giảm trong tháng Chín nhưng giá vẫn ở mức cao so với cùng kỳ năm ngoái do nguồn cung vẫn đang thiếu hụt. Kết quả là, giá các mặt hàng thực phẩm vẫn tăng 13,27%, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng trung bình 10,79% so với cùng kỳ năm trước.

Thứ hai, các cơ sở giáo dục thực hiện lộ trình tăng học phí làm cho giá dịch vụ giáo dục tháng 9/2020 tăng 2,84% so với tháng 9/2019.

Về lạm phát cơ bản (theo thước đo CPI loại trừ lương thực, thực phẩm, năng lượng và mặt hàng do nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục), tháng 9/2020 tăng 1,97% so với cùng kỳ năm 2019. CPI tháng 9/2020 có mức tăng cao hơn lạm phát cơ bản, điều này phản ánh biến động giá chủ yếu là do các yếu tố phi tiền tệ như giá lương thực, thực phẩm và dịch vụ y tế, giáo dục tăng.

1.2. Dự báo

Dự báo CPI năm 2020 so với cùng kỳ năm ngoái tăng trung bình 3,5% (+-0,2%).

Tốc độ tăng CPI trung bình trong 9 tháng đầu năm 2020 chỉ ở mức 3,85%, thấp hơn so với mức mục tiêu đặt ra là 4%. Hơn nữa, lạm phát tháng Chín hiệncũng chỉ ở mức 2,98% so với cùng kỳ năm trước và 0,12% so với tháng Tám. Do đó, mục tiêu kiềm chế lạm phát dưới 4% trong năm 2020 hoàn toàn đạt được bởi áp lực lạm phát trong 3 tháng cuối năm không nhiều.

Thứ nhất, tình hình dịch bệnh Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp trên thế giới, do đó nền kinh tế thế giới chưa thể phục hồi hoàn toàn trong nửa cuối năm 2020, nên giá dầu sẽ khó tăng mạnh. Giá dầu thô bình quân tháng 9/2020 hiện ở mức 40,60USD/thùng (giảm6,55% so với tháng 8/2020).

Thứ hai, giá thịt lợn vẫn đang ở mức cao, cho dù có thể không giảm mạnh như mong đợi, nhưng cũng sẽ khó tăng mạnh hơn nữa trong thời gian tới.

Bởi vậy, với mức lạm phát cơ bản hiện khoảng 1,97% so với cùng kỳ năm trước và do chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2020 chỉ tăng 0,12% so với tháng Tám nên dự báo CPI trung bình năm 2020 sẽ xoay quanh mức 3,5% (+-0,2%)so với cùng kỳ năm 2019, khả năng hoàn thành mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới 4% của Quốc Hội là hoàn toàn khả thi.

2. Dự báog bình quân của dầu thô và xăng dầu thành phẩm thế giới tháng 10/2020sẽ tăngtừ0-2% so với tháng 9/2020.

2.1. Thị trường thế giới:

Cuộc khủng hoảng y tế toàn cầu tiếp tục bùng phát với các ca nhiễm Covid-19 gia tăng ở Ấn Độ, Pháp, Anh, Tây Ban Nha và một số vùng của Mỹ. Các đợt bùng phát đang đe dọa làm chậm sự phục hồi kinh tế toàn cầu và làm giảm nhu cầu về nhiên liệu.

Mặc dù OPEC+ cắt giảm nguồn cung kỷ lục nhưng cũng không giúp hỗ trợ giá, do các số liệu kinh tế ảm đạm được báo cáo gần đây cho thấy triển vọng về nhu cầu dầu vẫn rất thấp. OPEC tiếp tục hạ dự báo tăng trưởng nhu cầu dầu trong năm 2020 do các tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 (điều chỉnh giảm triển vọng nhu cầu dầu toàn cầu xuống mức trung bình 90,2 triệu thùng/ngày, giảm 400.000 thùng/ngày so với ước tính tháng trước). OPEC dự báo nhu cầu dầu thô sẽ phục hồi chậm hơn dự kiến vào năm 2021(nhu cầu dầu toàn cầu sẽ tăng 6,6 triệu thùng/ngày, lên mức trung bình 96,9 triệu thùng/ngày trong năm 2021, dự báo này cũng thấp hơn 400.000 thùng/ngày so với ước tính trước đó).

Theo cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), dữ trữ dầu thô thương mại của Mỹ kết thúc tuần 18/9/2020 giảm 1,6 triệu thùng/ngày so với tuần trước đó (xuống còn 494,4 triệu thùng).  EIAcũng cắt giảm triển vọng tăng trưởng nhu cầu dầu toàn cầu năm 2021 thêm 500.000 thùng/ngày do nhu cầu tiêu thụ ở Trung Quốc giảm mạnh…

Giá dầu thô thế giới trong tháng 9/2020 trong xu hướng giảm do lo ngại sự phục hồi kinh tế tại Mỹ chậm lại, bầu cử Tổng thống ở Mỹ có nhiều diễn biến khó lường, cùng với đó là số ca bệnh nhiễm mới dịch Covid -19 tại châu Âu tăng cao trở lại…

Như vậy, diễn biến này làm cho:

 - Giá dầu thô bình quân của 3 thị trường Brent, Dubai và West Texas  Intermediatetháng 9/2020 ở mức 40,60USD/thùng (giảm6,55% so với tháng 8/2020);

- Giá xăng RON 95 bình quân tại thị trường Singapore tháng 9/2020 ở mức 47,36USD/thùng (giảm1,42% so với tháng 8/2020).

2.2. Thị trường Việt Nam:

Tháng 9/2020, do giá xăng dầu thế giới biến động theo xu hướng giảm nên Liên Bộ Công Thương – Tài Chính đã điều chỉnh giá xăng dầu trong nước 2 lần vào ngày 11/9 và 26/9/2020 theo hướng giảm giá bán lẻ. Cụ thể, giá bán lẻ một số mặt hàng xăng dầu được điều chỉnh như trong bảng 1.

Bảng 2: Giá xăng dầu bán lẻ tại vùng 1 tháng 9/2020

 

Xăng RON 95-III (đồng/lít)

Xăng E5 RON 92-II (đồng/lít)

Dầu hỏa (đồng/lít)

Dầu Diesel 0,05S-II (đồng/lít)

Dầu Mazut 3,5S (đồng/kg)

Mức giá từ ngày 27/8/2020

15.110

14.400

10.120

11.960

11.180

Mức giá từ ngày 11/9/2020

14.980

14.260

9.590

11.510

10.940

Mức giá từ ngày 26/9/2020

14.980

14.210

9.440

11.120

10.820

Mức giá ngày 11/9 so với 27/8/2020

Số tuyệt đối

-130

-140

-530

-450

-240

%

-0,86

-0,97

-5,24

-3,76

-2,15

Mức giá ngày 26/9 so với 11/9/2020

Số tuyệt đối

0

-50

-150

-390

-120

%

0,00

-0,35

-1,56

-3,39

-1,10

Mức giá ngày 26/9 so với 27/8/2020

Số tuyệt đối

-130

-190

-680

-840

-360

%

-0,86

-1,32

-6,72

-7,02

-3,22

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Petrolimex

Như vậy, giá xăng dầu vùng 1 được điều chỉnh vào ngày 26/9/2020 như sau: giá xăng RON 95-III là 14.980VND/lít (giảm 130VND/lít, tương đương 0,86%so với cuối tháng 8/2020); giá xăng E5 RON 92-II là 14.210VND/lít (giảm 190VND/lít, tương đương 1,32%so với cuối tháng 8/2020); dầu hỏa là 9.440VND/lít (giảm680VND/lít, tương đương 6,72%); dầu Diesel 0,05S-II là 11.120VND/lít (giảm 840VND/lít, tương đương 7,02%); dầu Mazut 3,5S là 10.820VND/kg (giảm 360VND/lít, tương đương 3,22%)…

Cùng với việc điều chỉnh giá xăng dầu, Liên Bộ Tài chính - Công Thương đã thực hiện mức trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu trong tháng 9/2020 như được nêu cụ thể ở bảng 2 và 3.

Bảng 3: Mức trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu tháng 9/2020

 

Xăng các loại (trừ xăng sinh học, đồng/lít)

Xăng E5 (đồng/lít)

Dầu hỏa (đồng/lít)

Diesel (đồng/lít)

Mazut các loại (đồng/kg)

Mức trích từ ngày 27/8/2020

100

0

200

400

100

Mức trích từ ngày 11/9/2020

100

0

200

400

0

Mức trích từ ngày 26/9/2020

100

0

200

400

0

Mức trích ngày 11/9 so với 27/8/2020

Số tuyệt đối

0

0

0

0

-100

%

0,00

 

0,00

0,00

-100,00

Mức trích ngày 26/9 so với 11/9/2020

Số tuyệt đối

0

0

0

0

0

%

0,00

 

0,00

0,00

 

Mức trích ngày 26/9 so với 27/8/2020

Số tuyệt đối

0

0

0

0

-100

%

0,00

 

0,00

0,00

-100,00

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Liên Bộ Tài chính - Công Thương

Bảng 4: Mức chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu tháng 9/2020

 

Xăng các loại (trừ xăng sinh học, đồng/lít)

Xăng E5 (đồng/lít)

Dầu hỏa (đồng/lít)

Diesel (đồng/lít)

Mazut các loại (đồng/kg)

Mức chi từ ngày 27/8/2020

670

1.295

0

0

453

Mức chi từ ngày 11/9/2020

500

1.100

0

0

350

Mức chi từ ngày 26/9/2020

524

1.100

0

0

100

Mức chi ngày 11/9 so với 27/8/2020

Số tuyệt đối

-170

-195

0

0

-103

%

-25,37

-15,06

 

0,00

-22,74

Mức chi ngày 26/9 so với 11/9/2020

Số tuyệt đối

24

0

0

0

-250

%

4,80

0,00

 

0,00

-71,43

Mức chi ngày 26/9 so với 27/8/2020

Số tuyệt đối

-146

-195

0

0

-353

%

-21,79

-15,06

 

0,00

-77,92

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Liên Bộ Tài chính - Công Thương

Như vậy so với cuối tháng 8/2020, trong tháng 9/2020 liên Bộ hầu như giữ nguyên hoặc giảm mức trích lập Quỹ bình ổn giá đối với xăng, dầu các loại; giữ nguyên hoặc giảmkhá mạnh chi sử dụng quỹđối với xăng, dầu các loại. Việc điều hành này đã giúp ổn định giá bán lẻ xăng dầu trong nước (giá bán lẻ xăng dầu trong nước giảm nhẹ, trong khi giá thị trường thế giới biến động theo xu hướng giảm mạnh hơn).

Dự báo: Thời gian tới giá dầu thô trên thị trường thế giới sẽ biến động khá mạnh bởi diễn biến dịch Covid -19 và tình hình bầu cử Tổng thống ở Mỹ có nhiều biến động khó lường… ảnh hưởng đến khả năng cải thiện nhu cầu dầu của kinh tế thế giới. Ở chiều ngược lại,việc Libya nối lại hoạt động xuất khẩu dầu lại làm cho cung dầu trên thị trường thế giới tăng thêm nữa… Do vậy, dự báo giá bình quânxăng dầu tháng 10/2020 sẽ tăng từ 0-2% so với tháng 9/2020.

3. Dự báo giá lợn hơi tháng 10/2020 sẽ tiếp tục giảm về mức 75.000 – 80.000 VND/kg.

Trong tháng 9/2020, giá lợn hơi cả nước biến động giảm, nhưng vẫn ở mức khá cao, trong ngưỡng 78.000 - 82.000 VND/kg.

Bảng 5: Giá lợn hơi ở Việt Nam tháng 9/2020 (VND/kg)

Khu vực

T9/2020

So với T8/2020

So với T9/2019

Miền Bắc

78.000 – 81.000

- 5. 00

+ 31.750

Miền Nam

78.00 – 82.000

- 6.000

+ 38.800

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu vinanet.vn và nhachannuoi.vn

+ Tại miền Bắc:giá lợn hơi trung bình khoảng 78.000 – 81.000  VND/kg, giảm5.000 VND/kg so với tháng 8/2020.

+ Tại miền Nam:giá lợn hơi trung bình khoảng 78.000 – 82.000VND/kg, giảm 6.000 VND/kg so với tháng 8/2020.

Nguyên nhân:Một phần nhờ nhập khẩu thịt lợn và lợn sống từ nước ngoài giúp bổ sung nguồn cung thịt lợn cho thị trường. Giá lợn hơi giảm trong thời gian qua còn có yếu tố quan trọng là người tiêu dùng bớt mua do thu nhập sụt giảm vì Covid-19 hoặc chuyển sang sử dụng các sản phẩm thay thế. Người tiêu dùng đang dần chấp nhận thịt lợn nhập khẩu vì giá thấp hơn 30% hoặc thịt gà, cá… Ngoài yếu tố cung cầu, trong khi dịch tả lợn châu Phi diễn biến khó lường, chi phí chăn nuôi lợn cao hơn trước cũng dẫn đến việc giá lợn hơi còn cao, chưa thể giảm về mức bình thường như trước đây trong ngắn hạn.

Dự báo: Giá lợn hơi tháng 10/2020 có thể sẽ dao động trong khoảng 75.000 – 80.000 VND/kg.

4. Dự báo tháng 10/2020 so với tháng 9/2020, glúa gạo xuất khẩu sẽ ổn định hoặc giảm nhẹ, còn giá lúa gạo ởthị trường trong nước cũng biến động theo xu hướng này.

4.1. Giá xuất khẩu:

Tháng 9/2020, giá gạo của một số nước xuất khẩu lớn có diễn biến tăng.Cụ thể, giá gạo của một số nước được phản ánh như trong bảng 5 và đồ thị 5.

Bảng 6: Giá bình quân xuất khẩu gạo 5% tấm của Thái Lan, Ấn Độ và Việt Nam          tháng 9/2020

 

Gạo 5% tấm Thái Lan (USD/tấn)

Gạo 5% tấm

Ấn Độ (USD/tấn)

Gạo 5% tấm Việt Nam (USD/tấn)

Giá bình quân tháng 9/2019

411

374

326

Giá bình quân tháng 8/2020

489

384

481

Giá bình quân tháng 9/2020

492

386

483

Mức giá T9/2020 so với T8/2020

Số tuyệt đối

         + 3

+ 2

+2

%

+ 0,6

+ 0,5

+ 0,42

Mức giá T9/2020 so với T9/2019

Số tuyệt đối

+79

+ 12

+ 57

%

+19,7

+ 3,2

+ 48,16

Nguồn: Tính toán từ số liệu của FAO và Reuters

Nguyên nhân:

+ Tại Thái Lan, tuy giá xuất khẩu trung bình tháng 9/2020 có tăng nhẹ so với tháng 8/2020 nhưng mức tăng thấp và có xu hướng giảm dần về cuối tháng do nhu cầu giảm. Bên cạnh đó, đồng baht Thái giảm giá sau khi Bộ trưởng Tài chính Thái Lan đột ngột xin từ chức chỉ sau 24 ngày làm việc. Nguồn cung lúa vụ mới tăng lên cũng góp phần khiến cho giá giảm.

+ Tại Ấn Độ, tại thời điểm đầu tháng 9/2020, các nhà xuất khẩu của Ấn Độ đang rất khó khăn do khan hiếm container và thiếu nhân lực ở cảng Kakinada giữa bối cảnh số ca nhiễm COVID-19 tại nước này hiện đứng thứ 2 thế giới chỉ sau Mỹ, trong khi nhu cầu cao. Nửa cuối tháng 9/2020, giá gạo trong nước liên tiếp giảm do sản lượng dự báo tăng. Tuy nhiên, giá gạo xuất khẩu không giảm nhiều như giá trong nước vì đồng rupee Ấn Độ mạnh lên.

+ Tại Việt Nam,tuy giá gạo xuất khẩu trung bình tháng 9/2020 của Việt Nam tăng nhẹ so với tháng trước, nhưng trong nửa cuối tháng, giá gạo xuất khẩu có xu hướng giảm do nhu cầu vẫn yếu, đặc biệt là Philippines đã tạm dừng nhập khẩu, cùng với vụ thu hoạch lúa Thu – Đông đã bắt đầu ở một số khu vực thuộc ĐBSCL, gây áp lực giảm giá.

4.2. Giá lúa gạo tại Việt Nam:

Trên thị trường nội địa tháng 9/2020, giá các loại lúa, gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có diễn biến giá tăng, giảm trái chiều so với tháng 8/2020. Theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương, tại An Giang, lúa OM6976 ở mức 6.000 - 6.200VND/kg,  IR50404 ở mức 7.000VND/kg, (tăng 1.000 VND/kg); gạo thường ở mức 10.300 – 11.500VND/kg (giảm 500VND/kg); gạo thơm đặc sản jasmine ở mức 15.000 – 15.500VND/kg (tăng 500 VND/kg). Riêng gạo hạt dài ở mức 18.000 – 19.000VND/kg, không thay đổi so với tháng 8/2020.

Bảng 7: Giá một số loại lúa gạo tại An Giang tháng 9/2020 (VND/kg)

Loại lúa gạo

Giá T9/2020

So với T8/2020

So với T9/2019

Lúa IR 50404 (lúa khô)

7.000

+1000

+2.000

Gạo IR50404

10.300 – 11.500

-500

+ 400

Gạo chất lượng cao

18.000 – 19.000

-

+ 5.500

Gạo thơm jasmine

15.000 – 15.500 

+500

+1.250

Nguồn: Tổng hợp số liệu của Bộ NN&PTNN và thitruongnongsan.gov.vn

Dự báo: Trong tháng 10/2020, trên thị trường gạo châu Á diễn biến giá gạo có thể ổn định hoặc giảm nhẹ do nhu cầu thị trường trầm lắng. Tại thị trường trong nước, giá lúa, gạo có thể giảm nhẹ do Philippines ngừng nhập khẩu gạo và vụ thu hoạch mới bắt đầu gây thêm áp lực cung cho thị trường...

5. Dự báo tháng10/2020 so tháng9/2020,giá cà phê thế giới có thểtăng 1-3%, giá cà phê nội địa Việt Nam sẽ tăng nhẹ.

5.1. Thị trường thế giới

Tháng 9/2020, giá cà phê Robusta và Arabica có diễn biến trái chiều, cụ thể:

- Tại sàn giao dịch London, giá cà phê Robusta bình quân tháng 9/2020 ở mức 1.379 USD/tấn(giảm 0,43% so tháng 8/2020);

- Tại sàn giao dịch ICE New York, giá cà phê Arabica bình quân tháng 9/2020 ở mức 2.675 USD/tấn (tăng 1,87% so tháng 8/2020).

5.2. Thị trường Việt Nam

Trong nửa cuối tháng 9/2020, tại thị trường Việt Nam, giá cà phê có xu hướng giảm nhẹ. Tính chung vả tháng 9/2020, giá cà phê Robusta ở khoảng 32.600 –33.100 VND/kg (giảm 700–800 VND/kg so với tháng 8/2020); giá xuất khẩu cà phê bình quân tháng 9/2020 ước đạt mức 1,88 USD/kg (tăng 8,9% so với tháng 8/2020 và tăng 7,4% so với tháng 9/2019).

Nguyên nhân:Lo ngại về thời tiết khô hạn ở Brazil là lý do chính đẩy giá cà phê Arabica tăng trong thời gian qua. Giá cà phê Robusta giảm nhẹ khi nhiều nền kinh tế lớn của thế giới tái bùng phát dịch bệnh Covid-19 lần thứ hai. EU là thị trường có mức tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới, tuy nhiên nhiều nước trong khối này bị tái lập giãn cách xã hội ảnh hưởng đến lượng cà phê tiêu thụ tại thị trường này. Thêm vào đó, các thị trường cà phê kỳ hạn thiếu vắng nhà đầu tư.

Dự báo:Trong tháng 10/2020, giá cà phê trên thị trường thế giới có thể tăng từ 1-3% do lượng mưa tại các khu vực trồng cà phê ở Brazil thấp hơn mong đợi cùng với đồng nội tệ real mất giá. Tại Việt Nam, giá cà phê có thể tăng nhẹ do diễn biến giá chung trên thị trường cà phê thế giới.

6. Dự báo giá cao su tháng 10/2020 có thể tiếp tục tăng từ3-5% so với tháng 9/2020.

6.1. Thị trường thế giới

Tháng 9/2020,giá cao su TSR20 bình quân trên sàn giao dịch SGX/SICOM (Singapore) tăng lên mức 1.678 USD/tấn (tăng 16,69% so tháng 8/2020; giá cao su RSS3 bình quân trên sàn giao dịch SICOM tăng nhẹ lên 1.360 USD/tấn (tăng5,02 % so tháng 8/2020).

6.2. Thị trường Việt Nam

Ở Việt Nam, giá mủ cao su nguyên liệu trong tháng 9/2020 tiếp tục có diễn biến tăng: Công ty TNHH MTV Tổng Công ty Cao su Đồng Nai trong tháng 9/2020 đã thu mua mủ cao su (loại mủ chén, khô) với giá trung bình là 10.910VND/kg tăng 10,31% so với tháng 8/2020.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, giá cao su xuất khẩu của Việt Nam tháng 9/2020 trung bình đạt 1,29USD/kg (tăng 6,36% so với tháng 8/2020 và giảm 1,45% so với tháng 9/2019).

Nguyên nhân:Giá cao su thế giới tăng do hoạt động kinh tế tại các nước tiêu thụ lớn dần cải thiện và nhiều hãng ô tô phục hồi sản xuất. Hoạt động sản xuất tại Trung Quốc tăng mạnh nhất trong gần 1 thập kỷ qua(khi các nhà máy thúc đẩy sản xuất để đáp ứng nhu cầu hồi phục kinh tế)...

Ở thị trường Việt Nam,giá cao su nguyên liệu cũng tăng theo xu hướng chung của giá cao su thế giới…

Dự báo: Hiệp hội Các nước sản xuất Cao su tự nhiên (ANRPC) dự báo tiêu thụ cao su tự nhiên toàn cầu trong những tháng cuối năm 2020 sẽ tiếp tục tăng do hoạt động kinh tế tại Trung Quốc, Mỹ và các nước tiêu thụ lớn khác dần cải thiện.Trong khi đó, sản lượng cao su tự nhiên toàn cầu lại giảm so với cùng kỳ năm 2019… Do vậy, dự báo giá cao su tự nhiên trong tháng 10/2020 có thể sẽ tiếp tục tăng từ 3-5% so với tháng 9/2020.

7. Lãi suất trong tháng 10/2020tiếp tục xu hướng giảm nhẹ do ảnh hưởng của dịch Covid-19.

7.1. Thế giới

Với tín hiệu tích cực từ đà phục hồi của một vài nền kinh tế lớn trong tháng 9/2020 điển hình làMỹ, Trung Quốc, Ngân hàng Trung ương các nước nhìn chung vẫn giữ nguyên các mức lãi suất cơ bản trong tháng 9/2020như các tháng trước nhằm tránh gây ra tâm lý hoang mang cho giới đầu tư, ảnh hưởng tiêu cực đến việc phục hồi nền kinh tế. Và mức lãi suất thấp như hiện nay nhiều khả năng sẽ được duy trì ổn định trong các tháng cuối năm.

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) quyết định giữ nguyên phạm vi mục tiêu cho lãi suất quỹ liên bang ở mức 0 - 0,25%sau cuộc họp ngày 16-17/9 trước tín hiệu tích cực cho thấy hoạt động kinh tế và việc làm đã tăng lên trong những tháng gần đây, tuy nhiên vẫn ở mức thấp hơn nhiều so với đầu năm 2020. Bên cạnh đó, nhu cầu yếu hơn và giá dầu thấp hơn đáng kể đang kìm hãm lạm phát giá tiêu dùng. Mức lãi suất này được cam kết duy trì cho đến khi thị trường lao động đạt toàn dụng nhân công và lạm phát ở mức mong muốn (khoảng 2%).

Ngày 10/9, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) thông báo đã quyết định giữ nguyên lãi suất chủ chốt và chương trình kích thích kinh tế.Quyết định này đưa ra trong bối cảnh Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) tiếp tục chật vật đối phó với sự suy thoái do đại dịch viêm đường hô hấp cấp Covid-19 gây ra. Kết thúc cuộc họp chính sách tiền tệ được tổ chức trực tuyến, các nhà lãnh đạo của ECB quyết định tiếp tục duy trì lãi suất cơ bản ở mức 0% với lãi suất cho vay trung hạn và lãi suất tiền gửi được giữ nguyên lần lượt là 0,25% và -0,5%.

Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBoC) thông báo giữ nguyên lãi suất cho vay cơ bản (LPR) đúng như kỳ vọng của thị trường, trong bối cảnh nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đang phục hồi sau dịch Covid-19 sau cuộc họp ngày 21/9. Theo đó, lãi suất cho vay cơ bản kỳ hạn một năm (LPR) được giữ nguyên ở mức 3,85%, trong khi LPR kỳ hạn năm năm vẫn ở mức 4,65%, lãi suất cho các khoản vay MLF kỳ hạn một năm đối với các tổ chức tài chính vẫn ở mức 2,95%.

7.2. Việt Nam

Trước tiến triển tích cực của tình hình kinh tế vĩ mô trong 9 tháng đầu năm 2020, lãi suất điều hành trong tháng 9/2020 được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) giữ ổn định như các mức tương ứng trong tháng 8/2020. Cụ thể:

-         Lãi suất tái cấp vốn giữ ở mức4,50%/năm;

-         Lãi suất tái chiết khấu giữ ở mức 3,00%/năm;

-         Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng giữ ở mức5,50%/năm;

-         Lãi suất chào mua giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mởgiữ ở mức 3,00%/năm.

-         Lãi suất đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng VNDgiữ ở mức 0,5%/năm

-         Lãi suất đối với tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc bằng VNDgiữ ở mức 0%/năm

-         Lãi suất tiền gửi bằng VND của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Quỹ tín dụng nhân dân và Tổ chức tài chính vi mô tại NHNN 0,8%/năm

-         Lãi suất tiền gửi của Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại NHNN giảm còn 0,8%/năm,

Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng tháng 9/2020 tiếp tục duy trì ổn định, phổ biến dao động trong khoảng từ 0,11% đến 0,76% với các kỳ hạn qua đêm, 1 tuần và 1 tháng, trong đó lãi suất kỳ hạn 1 tháng có biên độ dao động giảm 0,1% so với cùng kỳ hạn tháng 8/2020, trong đó biên độ lãi suất qua đêm, 1 tuần vẫn duy trì ổn định.

Nguyên nhân chủ yếu là do: (i) thanh khoản của hệ thống vẫn ở trạngthái tích cực; (ii) ảnh hưởng từ của đại dịch Covid-19 và quyết định giảm lãi suất điều hành của NHNN trong tháng 3/2020 và tháng 5/2020; và (iii)sức hấp thụ của nền kinh tế suy giảm, khiến cho tăng trưởng tín dụng tháng 9/2020 đạt mức thấp 5,12%; trong khi con số cùng kỳ năm 2019đạt 8,51%.

Trước ảnh hưởng từ dịch Covid-19 và việc điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng của NHNN vào ngày 6/8/2020, lãi suất huy động bằng VNDcác kỳ hạn ngắn (1-3 tháng) tiếp tục chứng kiến đà giảm trong tháng 92020.

Tính chung trên toàn hệ thống, khoảng dao động phổ biến của lãi suất huy động trong tháng 9/2020 có xu hướng giảm với các kỳ hạn ngắn hạndưới 6 tháng và dài hạn trên 12 tháng, trong khi duy trì ổn định với kỳ hạn 6 đến 12 tháng như trong tháng 8/2020. Cụ thể như bảng 7 dưới đây:

Bảng 8: Lãi suất tiền gửi của hệ thống ngân hàng thương mại tháng 9/2020

Kỳ hạn

Tháng 8/2020 (%/năm)

Tháng 9/2020 (%/năm)

Mức giảm (%/năm)

Kỳ hạn dưới 6 tháng

3,7-4,25

3,7-4,1

0,15

Kỳ hạn6 đến dưới 12 tháng

4,4-6,4

4,4-6,4

0,00

Kỳ hạn 12, 13 tháng

6,0 - 7,3

6,0-7,1

0,2

Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Ngân hàng Nhà nước

Tương tự như lãi suất huy động, từ đầu tháng 9/2020, hầu hết các ngân hàng, tổ chức tín dụng đều đã thông báo giảm lãi suất cho vaybằng VND đối với các khoản vay mới và cả trên dư nợ hiện hữu với mức giảm lãi suất từ 0,5 đến 2,5%/năm.Mặt bằng lãi suất cho vay bằng VND của TCTD có xu hướng giảm.Hiện lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với một số ngành lĩnh vực ở mức 5,0%/năm.

Lãi suất trúng thầu của trái phiếu Kho bạc Nhà nước tháng 9/2020ghi nhận sự biến động theo các kỳ hạn 5 năm, 10 năm, 15 năm, 20 năm với xu thế phần lớn đều giảm hoặc giữ nguyên giá trí so với tháng 8/2020 (trừ lãi suất trúng thầu kỳ hạn 20 năm có tăng nhẹ 0,02% vào phiên phát hành đầu tháng 9/2020).

Mức giảm lãi suất trúng thầu của trái phiếu Kho bạc Nhà nước trong tháng 9/2020 so với tháng 8/2020 dao động từ 0,04%đến 0,35%/năm. Trong đó, lãi suất trúng thầu tại kỳ hạn 5 năm giảm mạnh nhất với mức giảm trong phiên phát hành cuối tháng 9/2020 là 0,35%/năm.

Bảng 9: Lãi suất trúng thầu của trái phiếu Kho bạc Nhà nước
tháng 9/2020so với tháng 8/2020

STT

Kỳ hạn
trái phiếu

Lãi suất trúng thầu tháng 8/2020 (%/năm)

Lãi suất trúng thầu tháng 9/2020 (%/năm)

Mức biến động (%/năm)

1

5 năm

1,70 - 1,72

1.35 – 1.68

(-0,35) – (-0,04)

2

10 năm

2,82 – 2.90

2,75 – 2,90

(-0,07)

3

15 năm

3,01 – 3,07

2,96 – 3,07

(-0,05)

4

20 năm

3,34

3,26 – 3,36

(-0,08)–0,02

Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội

* Dự báo: Nhìn chung, lãi suất trong tháng 10/2020 nhiều khả năng sẽ tiếp tục giảm sau khi Quyết định 1728/QĐ-NHNN, 1729/QĐ-NHNN chính thức điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành có hiệu lực từ ngày 1/10 với các kịch bản sau:

Kịch bản 1: làn sóng thứ hai của dịch Covid-19tiếp tục không bùng phát trong cộng đồng tại Việt Nam và được kiểm soát tốt tại các vùng tâm dịch trên thế giới vào đầu quý IV/2020, các biện pháp giãn cách xã hội tiếp tục được nới lỏng.

Khi đó, hoạt động sản xuất trong nước không bị xáo trộn lớn trong khi kinh tế thế giới dần phục hồi, cộng với tình trạng thanh khoản đang dư thừa và hiệu ứng từ quyết định điều chỉnh giảm lãi suất của NHNN, các hạng mục lãi suất huy động, cho vay sẽ giảm nhẹđể hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, tập trung chủ yếu vào kỳ hạn ngắn.

Trong khi đó, lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng nhiều khả năng vẫn duy trì ổn định ở mặt bằng thấp kỷ lục như hiện nay trong bố

Trở lại
CÁC BÀI VIẾT KHÁC
40 triệu USD hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ (25/12/2010)
Các doanh nghiệp lớn ám ảnh bởi vụ Vinashin (25/12/2010)
Giá vàng và USD quay đầu giảm mạnh (22/02/2011)
Giá mặt bằng bán lẻ Hà Nội - TP HCM cùng hạ nhiệt (19/01/2011)
Vàng ‘rơi’ xuống đáy của 2 tháng (21/01/2011)
Thống đốc Ngân hàng giải trình về lãi suất, lạm phát (25/12/2010)
Vàng vượt 36,3 triệu đồng (15/02/2011)
Báo cáo tài chính nhà nước năm 2018 đang dần hoàn thiện (09/01/2020)
Mặt hàng nào giảm giá mạnh sau kì nghỉ lễ? (06/05/2011)
Nhà đất Hà Nội, Sài Gòn rục rịch giảm giá (23/05/2011)
Sữa nội vẫn chưa chịu giảm theo giá thế giới (31/05/2011)
Giảm mục tiêu tăng trưởng, nới chỉ tiêu lạm phát (06/06/2011)
Thị trường bán lẻ Việt Nam liên tiếp rớt hạng (08/06/2011)
Xe ngoại tăng mạnh trước thời điểm siết thủ tục nhập khẩu (27/06/2011)
Thu hút FDI giảm một nửa (28/06/2011)
Xem tiếp
 
 
         Tin tức & sự kiện mới
Thông báo v/v nhận Hồ sơ đăng ký xét tuyển thẳng học sinh giỏi ở bậc THPT vào đại học chính quy Học viện Tài chính năm 2020
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2019 và dự báo cả 2020.
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam 6 tháng đầu năm và dự báo cả năm 2019.
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2018 và dự báo 2019
Hội thảo Diễn biến giá cả, thị trường ở Việt Nam 6 tháng đầu năm và dự báo cả năm 2018.
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 10 năm 2020
Báo cáo phân tích dự báo tháng 9 năm 2020
Báo cáo phân tích dự báo tháng 8 năm 2020
Báo cáo phân tích dự báo tháng 7 năm 2020
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam 6 tháng đầu năm và dự báo cả năm 2020
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 6 năm 2020
Báo cáo tài chính nhà nước năm 2018 đang dần hoàn thiện
Thủ tướng yêu cầu các tập đoàn không đầu tư ngoài ngành
Việt Nam tụt hạng năng lực cạnh tranh
Việt Nam nợ nước ngoài 32,5 tỷ USD
Việt Nam nguy cơ rớt hạng tín nhiệm nếu lạm phát còn cao
Miễn thuế thu nhập cá nhân dưới 9 triệu đồng
Bình ổn thị trường thực phẩm tươi sống
Chính phủ đồng ý miễn thuế thu nhập cá nhân
Thu hút FDI giảm một nửa
        Email
        Hình ảnh hoạt động
Khóa học Quản trị Tài chính (từ 14-16/7/2011)
Viện kỷ niệm 86 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam
Bế giảng khóa học Quản trị Tài chính (14/5/2011)
Khóa Quản trị Công ty ngày 7-9/4/2011
Bế giảng khóa học Quản trị Công ty (9/4/2011)
Xem toàn bộ

Viện Kinh tế - Tài chính

162 Nguyễn Văn Cừ - Long Biên - Hà Nội

ĐT: 024 39334139, Fax: 024 38252475

Email: vienkttc@hvtc.edu.vn