Chương trình đào tạo
Các khóa học ngắn hạn
Các khóa học dài hạn
Lịch tuyển sinh
Đăng ký trực tuyến
        Tin nóng
 
         Tìm kiếm thông tin
         Hỗ trợ trực tuyến
Phòng Khoa học và Đào tạo
Bản tin Thị trường
Phòng NC Tài chính
Phòng NC Thị trường Giá cả
Phòng Hành chính Tài vụ
         Liên kết website
         Đối tác khách hàng
         Thông kê truy cập
Online: 2
Visited: 1011694
 
  

 

 

Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 10 năm 2021

1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2021 giảm 0,62% so với tháng trước và tăng 2,06% so với tháng 9/2020. Bình quân 9 tháng đầu năm 2021, CPI tăng 1,82% so với cùng kỳ năm trước, vẫn là mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016.

1.1. Diễn biến

Theo số liệu vừa được công bố từ Tổng cục Thống kê, CPI tháng 9/2021giảm 0,62% so với tháng 8/2021. Nguyên nhân chủ yếu là do:

- Thứ nhất,nhóm giáo dục tháng 9/2021 giảm 2,89% so với tháng trước do một số địa phương thực hiện miễn, giảm học phí năm học 2021-2022.

- Thứ hai, nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tháng 9/2021 giảm 1,99%, chủ yếu do giá tiền thuê nhà giảm để hỗ trợ người dân trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội. Cùng với đó, giá điện giảm tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg và thời tiết sang thu nên nhu cầu tiêu dùng điện, nước sinh hoạt giảm so với tháng trước.

Trong khi đó, áp lực gây tăng giá các mặt hàng trong tháng qua hầu như không có. Duy chỉ có nhóm đồ uống và thuốc lá tháng 9/2021 có mức tăng so với tháng trước cao nhất với 0,17%, chủ yếu do giá thuốc lá tăng khi chi phí vận chuyển tăng và nguồn cung hạn chế.

So với năm 2020, CPI tháng 9/2021 tăng 2,06% so với tháng 9/2020 và tăng 1,88%so với tháng 12/2020. Bình quân 9 tháng đầu năm 2021, CPI tăng 1,82% so với cùng kỳ năm trước, đây vẫn là mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016 tới nay. 

 

CPI tháng 9/2021 so với

CPI bình quân 9 tháng đầu năm 2021 so với cùng kỳ năm 2020

Tháng 8
năm 2021

Tháng 12
năm 2020

Tháng 9 năm 2020

Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng

-0,62%

+1,88%

+2,06%

+1,82%

Nguyên nhân chính khiến CPI  tháng 9/2021 vẫn tăng 2,06% so với cùng kỳ năm 2020 là do:

- Thứ nhất,nhóm giao thông tăng cao nhất 13,58% so với tháng 9/2020, chủ yếu do từ tháng 10/2020 đến nay giá xăng A95 tăng 6.960 đồng/lít; giá xăng E5 tăng 6.500 đồng/lít và giá dầu diezen tăng 5.460 đồng/lít.

- Thứ hai, giá lương thực tăng 4,66% do giá gạo tăng 4,74% so với cùng kỳ năm trước.

- Thứ hai, nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,04% so với tháng 9/2020 chủ yếu do chi phí vận chuyển tăng và nguồn cung hạn chế.

Bên cạnh đó, một số yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI tháng 9/2021 đó là một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương miễn giảm học phí năm học 2021-2022 làm cho giá nhóm giáo dục giảm 1,09% do trong tháng 9/2021; giá phụ kiện điện thoại thông minh giảm làm cho giá nhóm bưu chính, viễn thông giảm 0,89%; giá du lịch trọn gói và giá khách sạn, nhà khách giảm khi chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19 khiến giá nhóm văn hóa, giải trí, du lịch giảm 0,71% so với cùng kỳ năm trước.

Về lạm phát cơ bản (theo thước đo CPI loại trừ lương thực, thực phẩm, năng lượng và mặt hàng do nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục), tháng 9/2021 giảm 0,26% so với tháng trước, tăng 0,74% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 9 tháng năm 2021, lạm phát cơ bản tăng 0,88% so với cùng kỳ năm 2020, thấp hơn mức CPI bình quân chung (tăng 1,82%), điều này phản ánh biến động giá tiêu dùng chủ yếu do giá lương thực, giá xăng, dầu và giá gas tăng. Mức lạm phát cơ bản tháng Chín và 9 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước đều là mức thấp nhất kể từ năm 2011.

1.2. Dự báo

Dự báo CPI năm 2021 tăng trung bình 2,5% (+-0,25%)

Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng hiện tại tháng 9/2021 đang ở mức -0,61% so với tháng trước và chỉ tăng 1,88% so với tháng 12/2020. Như vậy, trong vòng 9 tháng qua CPI tăng trung bình chỉ khoảng 0,16%/tháng. Tổng cầu yếu do Covid-19 là nguyên nhân cơ bản giữ cho lạm phát tại Việt Nam được duy trìở mức thấp trong bối cảnh giá các hàng hóa cơ bản trên thế giới tăng cao. Tuy nhiên, với sự bao phủ của vacxin Covid-19, các địa phương dần nới lỏng giãn cách và các hoạt động sản xuất kinh doanh đang quay trở lại bình thường trong những tháng cuối năm. Giả định, tốc độ tăng CPI trong 3 tháng cuối năm là 1%/tháng so với tháng trước thì lạm phát trung bình cả năm 2021 vẫn chỉ ở mức 2,27% .

Bên cạnh đó, biến chủng Delta vẫn đang là mối đe dọa tại nhiều quốc gia trên thế giới, khiến cho giá dầu khó có thể tăng mạnh trong thời gian tới. Chúng tôi vẫn giữ nguyên mức dự báo lạm phát trung bình trong năm 2021 sẽ vào khoảng 2,5% (+-0,25%) và nhiều khả năng dưới mức 3%.

Như vậy, mục tiêu kiềm chế lạm phát trung bình cả năm ở mức dưới 4% trong năm 2021 chắc chắn sẽđạt được.

2. Dự báog bình quân của dầu thô và xăng dầu thành phẩm thế giới tháng 10/2021sẽ tăng từ 7-12% so với tháng 9/2021.

2.1. Thị trường thế giới:

Theo báo cáo của OPEC công bố ngày 13/9/2021,nguồn cung dầu thô thế giới trong tháng 8/2021 giảm 540.000 thùng/ngày so với tháng 7/2021 (xuống 96,14 triệu thùng/ngày) sau nhiều tháng tăng và không thay đổi trong tháng 9/2021. Lý do chính là bởi sản lượng khai thác của Mỹ tại khu vực vịnh Mexico giảm 650.000 thùng/ngày (vì ảnh hưởng của Siêu bão Ida đổ bộ vào lục địa Mỹ ngày 29/8/2021) và chưa thể phục hồi. Thêm vào đó, sản lượng khai thác của OPEC+ giảm 150.000 thùng/ngày trong tháng 8/2021 (xuống 41,58 triệu thùng/ngày), do sản lượng của Nigeria, Kazakhstan và Mexico bị sụt giảm…

OPEC ước tính tiêu thụ dầu thô thế giới quý III/2021 sẽ đạt 98,46 triệu thùng/ngày, tăng 220.000 thùng/ngày so với dự báo công bố hồi tháng 8/2021 nhờ tần suất đi lại, tiêu thụ nhiên liệu tại nhiều nền kinh tế lớn thế giới tăng.

OPEC dự báo năm 2022, nhu cầu dầu thô trên thế giới tăng thêm 3,3 triệu thùng/ngày so với năm 2021 lên trung bình 99,9 triệu thùng/ngày, tương đương với mức trung bình năm 2019 - thời điểm trước khi xảy ra đại dịch Covid-19.

Giá dầu thô thế giới tháng 9/2021 biến động trong xu hướng tăng mạnh do lo ngại nguồn cung không tăng kịp khi nhu cầu tăng được thúc đẩy bởi các chương trình kích thích kinh tế và nới lỏng giản cách ở nhiều quốc gia, trong bối cảnh việc triển khai tiêm chủng vacine được đẩy nhanh...

Diễn biến này làm cho:

- Giá dầu thô bình quân của 3 thị trường Brent, Dubai và West Texas  Intermediate tháng 9/2021 ở mức 72,80USD/thùng (tăng 5,71% so với tháng 8/2021);

- Giá xăng RON 95 bình quân tại thị trường Singapore tháng 9/2021 ở mức 83,88USD/thùng (tăng 3,61% so với tháng 8/2021).


 

2.2. Thị trường Việt Nam:

Tháng 9/2021, do giá xăng dầu thế giới biến động theo xu hướng tăng nên Liên Bộ Công Thương - Tài Chính đã điều chỉnh tăng giá bán lẻ xăng dầu vào ngày 10/9 và 25/9/2021. Cụ thể, giá bán lẻ một số mặt hàng xăng dầu được điều chỉnh như trong bảng 1.

Bảng 1: Giá xăng dầu bán lẻ tại vùng 1 tháng 9/2021

 

Xăng RON 95-III (đồng/lít)

Xăng E5 RON 92-II (đồng/lít)

Dầu hỏa (đồng/lít)

Dầu Diesel 0,05S-II (đồng/lít)

Dầu Mazut 3,5S (đồng/kg)

Mức giá từ ngày 26/8/2021

21.130

19.890

14.760

15.660

15.050

Mức giá từ ngày 10/9/2021

21.390

20.140

15.080

16.020

15.950

Mức giá từ ngày 25/9/2021

21.940

20.710

15.640

16.580

16.580

Mức giá ngày 10/9 so với 26/8/2021

Số tuyệt đối

260

250

320

360

900

%

1,23

1,26

2,17

2,30

5,98

Mức giá ngày 25/9 so với 10/9/2021

Số tuyệt đối

550

570

560

560

630

%

2,57

2,83

3,71

3,50

3,95

Mức giá ngày 25/9 so với 26/8/2021

Số tuyệt đối

810

820

880

920

1.530

%

3,83

4,12

5,96

5,87

10,17

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Petrolimex

Như vậy, giá xăng dầu vùng 1 được điều chỉnh vào ngày 25/9/2021 như sau: giá xăng RON 95-III là 21.940VND/lít (tăng810VND/lít, tương đương 3,83% so với cuối tháng 8/2021); giá xăng E5 RON 92-II là 20.710VND/lít (tăng820VND/lít, tương đương 4,12%); dầu hỏa là 15.640VND/lít (tăng880VND/lít, tương đương 5,96%); dầu Diesel 0,05S-II là 16.580VND/lít (tăng920VND/lít, tương đương 5,87%); dầu Mazut 3,5S là 16.580VND/kg (tăng 1.530VND/kg, tương đương 10,17%)…

Cùng với việc điều chỉnh giá xăng dầu, Liên Bộ Tài chính - Công Thương đã thực hiện mức trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu trong tháng 9/2021 như được nêu cụ thể ở bảng 2 và 3.

Bảng 2: Mức trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu tháng 9/2021

 

Xăng các loại (trừ xăng sinh học, đồng/lít)

Xăng E5 (đồng/lít)

Dầu hỏa (đồng/lít)

Diesel (đồng/lít)

Mazut các loại (đồng/kg)

Mức trích từ ngày 26/8/2021

150

0

400

400

300

Mức trích từ ngày 10/9/2021

150

0

200

200

100

Mức trích từ ngày 25/9/2021

150

0

200

200

100

Mức trích  ngày 10/9 so với 26/8/2021

Số tuyệt đối

0

0

-200

-200

-200

%

0,00

0,00

-50,00

-50,00

-66,67

Mức trích  ngày 25/9 so với 10/9/2021

Số tuyệt đối

0

0

0

0

0

%

0,00

0,00

0,00

0,00

0,00

Mức trích  ngày 25/9 so với 26/8/2021

Số tuyệt đối

0

0

-200

-200

-200

%

0,00

0,00

-50,00

-50,00

-66,67

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Liên Bộ Tài chính - Công Thương

Bảng 3: Mức chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu tháng 9/2021

 

Xăng các loại (trừ xăng sinh học, đồng/lít)

Xăng E5 (đồng/lít)

Dầu hỏa (đồng/lít)

Diesel (đồng/lít)

Mazut các loại (đồng/kg)

Mức chi từ ngày 26/8/2021

0

950

0

0

0

Mức chi từ ngày 10/9/2021

0

900

0

0

0

Mức chi từ ngày 25/9/2021

0

850

0

0

0

Mức chi ngày 10/9 so với 26/8/2021

Số tuyệt đối

0

-50

0

0

0

%

0,00

-5,26

0,00

0,00

0,00

Mức chi ngày 25/9 so với 10/9/2021

Số tuyệt đối

0

-50

0

0

0

%

0,00

-5,56

0,00

0,00

0,00

Mức chi ngày 25/9 so với 26/8/2021

Số tuyệt đối

0

-100

0

0

0

%

0,00

-10,53

0,00

0,00

0,00

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Liên Bộ Tài chính - Công Thương

Như vậy so với cuối tháng 8/2021, tháng 9/2021 liên Bộ tiếp tục không thực hiện trích lập Quỹ bình ổn giá đối với xăng E5, giữ nguyên mức trích lập quỹ đối với xăng các loại (trừ xăng sinh học) và giảm mức trích lập quỹ đối với các loại dầu; tiếp tục không thực hiện chi sử dụng quỹ đối với các loại dầu và xăng các loại (trừ xăng sinh học),giảm mức chi sử dụng quỹ đối với xăng E5. Việc điều hành này đã khiến cho giá bán lẻ xăng dầu trong nước tháng 9/2021 so tháng 8/2021 có phần tăng chậm hơn so với mức tăng chung của giá xăng dầu thế giới...

Dự báo: Giá dầu có động lực tăng do triển vọng nhu cầu tích cực từ sự phục hồi của kinh tế thế giới trong khi nguồn cung bị thắt chặt. Mất cân đối cung cầu này sẽ không sớm được giải quyết trong một vài tháng tới, khi OPEC+ chưa có ý định tăng mạnh sản lượng dầu khai thác. Ngân hàng đầu tư đa quốc gia Goldman Sachs dự báo giá dầu thô thế giới trong thời gian tới có thể sẽ đạt mức 90 USD/thùng. Vì vậy, dự báo giá dầu thế giới bình quân tháng 10/2021 có thể sẽ tăng từ 7-12% so với tháng 9/2021.

3. Dự báo giá lợn hơi tháng 10/2021 sẽ tiếp tục giảm so với tháng 9/2021, dao động ở mức 42.000-48.000 VND/kg.

Trong tháng 9/2021, giá lợn hơi cả nước có diễn biến giảm ở cả Miền Nam và Miền Bắc. Cụ thể.

Bảng 4: Giá lợn hơi ở Việt Nam tháng 9/2021 (VND/kg)

Khu vực

Tháng 9/2021

So với Tháng 8/2021

So với Tháng 9/2020

Miền Bắc

48.600-50.800

-4.800

-29.800

Miền Nam

49.800-52.800

-1.200

-28.700

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu vinanet.vn và nhachannuoi.vn

+ Tại miền Bắc: giá lợn hơi trung bình khoảng 48.600-50.800VND/kg, giảm 4.400-5.200VND/kg so với tháng 8/2021.

+ Tại miền Nam: giá lợn hơi trung bình khoảng 49.800-52.800 VND/kg, giảm 700-1.700 VND/kg so với tháng 8/2021.

Nguyên nhân: Nguyên nhân giá lợn hơi giảm trong tháng 9/2021 do chịu ảnh hưởng lớn từ diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 nên tiêu thụ giảm, trong khi nguồn cung dần phục hồi. Các lệnh hạn chế đi lại nhằm kiểm soát sự lây lan dịch Covid-19 tại một số địa phương khiến hoạt động thu mua, giết mổ và vận chuyển gặp khó khăn. Trong khi đó, giá thức ăn chăn nuôi liên tục tăng cao khiến nhiều hộ chăn nuôi phải bán sớm cắt lỗ làm tăng nguồn cung cục bộ…

Dự báo: Do diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 nên hoạt động thu mua, giết mổ và vận chuyển có thể vẫn gặp khó khăn, nhu cầu tiêu thụ thịt lợn chưa phục hồi... Vì vậy, trong tháng 10/2021, giá thịt lợn hơi có thể sẽ tiếp tục giảm và dao động từ 42.000-48.000 VND/kg.

4. Dự báo tháng 10/2021 glúa gạo xuất khẩu của Việt Nam sẽ tăng từ 1-4% so với tháng 9/2021.

4.1. Giá xuất khẩu:

Tháng 9/2021, giá gạo của một số nước xuất khẩu lớn có diễn biến trái chiều: giá gạo xuất khẩu của Ấn Độ và Việt Nam tăng trong khi giá gạo xuất khẩu của Thái Lan giảm so với tháng 8/2021. Cụ thể, giá gạo của một số nước được phản ánh như trong bảng 5 và đồ thị 5.

Bảng 5: Giá bình quân xuất khẩu gạo 5% tấm của Thái Lan, Ấn Độ và Việt Nam          tháng 9/2021

 

Gạo 5% tấm Thái Lan (USD/tấn)

Gạo 5% tấm

Ấn Độ (USD/tấn)

Gạo 5% tấm Việt Nam (USD/tấn)

Giábìnhquântháng 9/2020

492

388

483

Giábìnhquântháng 8/2021

393,8

355,9

387,5

Giábìnhquântháng 9/2021

388,9

362

406,9

Mức giá T9/2021 so với T8/2021

Sốtuyệtđối

-4,9

6,1

19,4

%

1,71

- 1,24

5,01

Mức giá T9/2021 so với 9/2020

Sốtuyệtđối

- 103,1

- 26

- 76,1

%

- 20,96

- 6,7

- 15,76

Nguồn: Tính toán từ số liệu của FAO và Reuters

Nguyên nhân:

+ Giá gạo xuất khẩu của Ấn Độ tăng do nhu cầu nhập khẩu gạo từ khách hàng châu Phi đã cải thiện so với tháng trước.

+ Giá gạo xuất khẩu của Thái Lan giảm do đồng Baht giảm kéo theo giá gạo xuất khẩu tính theo USD cũng giảm. Đồng Baht đã giảm khoảng 3% kể từ cuối tháng 8/2021 đến cuối tháng 9/2021.

+ Tại Việt Nam, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng do chi phí vận chuyển cao.…

4.2. Giá lúa gạo tại Việt Nam:

Trên thị trường nội địa tháng 9/2021 tại khu vực ĐBSCL, một số loại lúa, gạo có diễn biến giảm giá. Theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương, tại An Giang, lúa OM6976 ở mức 5.000-5.120VND/kg (giảm 60-120VND/kg); lúa IR50404 ở mức 5.440-5.500VND/kg (giảm 600VND/kg); gạo thường ở mức 10.600-11.500VND/kg (giảm 200-600VND/kg); gạo hạt dài ở mức 17.000-18.000VNd/kg (giảm 100VND/kg); gạo thơm đặc sản Jasmine ở mức 13.400-14.400VND/kg (giảm 600VND/kg) so với tháng 8/2021.

Bảng 6: Giá một số loại lúa gạo tại An Giang tháng 9/2021 (VND/kg)

Loại lúa gạo

Giá T9/2021

So với T8/2021

So với T9/2020

Lúa OM6976

5.000-5.120

-90

- 1.060

Lúa IR 50404 (lúa khô)

5.440-5.500

-600

-1.030

Gạo thường

10.600-11.500

-400

-100

Gạo hạt dài

17.000-18.000

-100

- 1.000

Gạo thơm jasmine

13.400-14.400 

-600

- 1.100

Nguồn: Tổng hợp số liệu của Bộ NN&PTNN và thitruongnongsan.gov.vn

Dự báo: Tháng 10/2021, thị trường gạo châu Á vẫn trầm lắng khi nhu cầu nhập khẩu chưa được cải thiện vì chi phí vận chuyển cao và hàng chậm giao, giá gạo xuất khẩu có thể sẽ tiếp tục giảm nhẹ trong bối cảnh chịu tác động tiêu cực của dịch Covid-19…

Việt Nam đang nới lỏng dần các hạn chế di chuyển liên quan đến dịch Covid-19, vì vậy hoạt động giao dịch có thể khôi phục trong những tuần tới, tuy nhiên giá gạo xuất khẩu của Thái Lan và Ấn Độ rẻ hơn giá gạo xuất khẩu của Việt Nam có thể cản trở đà tăng của giá gạo xuất khẩu của Việt Nam...  Vì vậy, dự báo giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trong tháng 10/2021 có thể sẽ tăng từ 1-4% so với tháng9/2021…

5. Dự báo tháng 10/2021 so tháng9/2021,giá cà phê thế giới có thể tiếp tục tăng từ 0-4%, giá cà phê nội địa Việt Nam sẽ biến động theo xu hướng này.

5.1. Thị trường thế giới

Tháng 9/2021, giá cà phê Robusta và Arabica có diễn biến tăng:

- Tại sàn giao dịch London, giá cà phê Robusta kỳ hạn tháng 11/2021 bình quân tháng 9/2021 ở mức 2.104 USD/tấn(tăng 13,8% so tháng 8/2021);

- Tại sàn giao dịch ICE New York, giá cà phê Arabica kỳ hạn tháng 12/2021 bình quân tháng 9/2021 ở mức 4.244USD/tấn (tăng 6,71% so tháng 8/2021). 

5.2. Thị trường Việt Nam

Tháng 9/2021 tại thị trường Việt Nam, giá cà phê có diễn biến tăng. Tính chung cả tháng 9/2021, giá cà phê Robusta ở khoảng 39.440-40.340 VND/kg (tăng 2.280VND/kg so với tháng 8/2021).

Giá xuất khẩu cà phê bình quân trong nửa đầu tháng 9/2021 đạt mức 2.038 USD/tấn, tăng 3,45% so với tháng 8/2021 và tăng 9,57% so với cùng kỳ năm 2020.

Nguyên nhân:Giá cà phê trên thị trường thế giới tháng 9/2021 tăng so với tháng trước do ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19, nguồn cung từ khu vực Đông Nam Á bị chậm trễ, cước vận chuyển tăng cao cùng với việc Brazil bị ảnh hưởng nặng nề bởi hạn hán và băng giá khiến sản lượng cà phê sụt giảm đã đẩy giá tăng cao.

Giá cà phê trong nước tăng theo xu hướng tăng chung của giá cà phê trên thị trường thế giới và do dịch bệnh Covid-19diễn biến phức tạp, Việt Nam phải giãn cách xã hội ở một số địa phương ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất cũng như vận chuyển hàng hóa gây thiếu nguồn cung...

Dự báo: Tháng 10/2021, dự báo giá cà phê toàn cầu có thể sẽ tiếp tục tăng do nguồn cung sụt giảm ở các nước sản xuất lớn như Brazil, Việt Nam... Thời tiết khắc nghiệt tại vùng cà phê Brazil khiến nguồn cung ứng cà phê thế giới sụt giảm. Lượng mưa quá ít tại vành đai cà phê Brazil chưa thể bù đắp lại thiệt hại của sương giá và hạn hán kéo dài khiến cây cà phê bị suy kiệt. Các hiện tượng thời tiết cực đoan đang gây áp lực lên sản lượng cà phê Brazil và thế giới. Trong bối cảnh chịu ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch Covid-19, chuỗi cung ứng cà phê bị đứt gãy, giá cước vận chuyển quá cao góp phần đẩy giá cà phê đi lên. Vì vậy, dự báo giá cà phê xuất khẩu trong tháng 10/2021 có thể sẽ tiếp tục tăng từ 0-4% so với tháng9/2021.

6. Dự báo giá cao su tháng 10/2021 có thể sẽ tăng từ0-3% so với tháng 9/2021.

6.1. Thị trường thế giới

Tháng 9/2021, giá cao su trên thị trường thế giới có xu hướng giảm.  Tính chung cả tháng 9/2021, giá cao su TSR20 bình quân trên sàn giao dịch SICOM (Singapore) đạt1,63 USD/kg, giảm4,74% so tháng 8/2021; giá cao su RSS3bình quân trên sàn giao dịch SICOM (Singapore) đạt1,79 USD/kg, giảm5,94% so tháng 8/2021.

6.2. Thị trường Việt Nam

Ở Việt Nam tháng 9/2021, giá mủ cao su nguyên liệu giảm so với tháng 8/2021. Tính chung cả tháng 9/2021, Công ty TNHH MTV Tổng Công ty Cao su Đồng Naiđã thu mua mủ cao su (loại mủ chén, khô) với giá trung bình là 12.990VND/kg giảm 2,83% so với tháng 8/2021.

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, giá cao su xuất khẩu của Việt Nam trong nửa đầu tháng 9/2021 trung bình ước đạt 1,646 USD/kg (tăng0,49% so với nửa đầu tháng 8/2021 và tăng 27,89% so với cùng kỳ năm 2020).

Nguyên nhân: Giá cao su trên thị trường thế giới trong tháng 9/2021 giảmso với tháng 8/2021do đại dịch Covid-19diễn biến phức tạp gây gián đoạn nghiêm trọng hoạt động sản xuất và vận chuyển hàng hóa toàn cầu. Giá cước vận chuyển cao ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu cao su của các nước. Bên cạnh đó, sản lượng ô tô sụt giảm do thiếu chip trên phạm vi toàn cầu đã tạo áp lực giảm giá mặt hàng này.

Giá cao su nguyên liệu trong nước giảmkhi hàng loạt nhà máy sơ chế, chế biến cao su phải cắt giảm sản xuất hoặc tạm ngừng hoạt động do ảnh hưởng của dịch Covid-19…

Dự báo: Trong tháng 10/2021, giá cao su có thể tăng nhẹ do triển vọng kinh tế thế giới phục hồi khiến chonhu cầu cao su tăng. Thêm vào đó, giá dầu mỏ có xu hướng tăng mạnh cũng thúc đẩy làm tăng giá cao su tự nhiên… Vì vậy, dự báo giá cao su tự nhiên trong tháng 10/2021 có thể sẽ tăng từ 0-3% so với tháng9/2021.

7. Lãi suất trong tháng 10/2021 tiếp tục giảm nhằm hỗ trợ phục hồi kinh tế sau các đợt giãn cách xã hội kéo dài tại nhiều địa phương.

7.1. Thế giới

Mặc dù nâng mức dự báo về triển vọng phục hồi của nền kinh tế, song Ngân hàng Trung ương các nước nhìn chung vẫn thận trọng trong quyết định chính sách tiền tệ bởi cho rằng đây chỉ là hiện tượng tạm thời của nền kinh tế.Mức lãi suất cơ bản thấp vẫn được duy trì trong tháng 09/2021 như các tháng trước nhằm thận trọng để hỗ trợ nền kinh tế trước khi đưa ra những thay đổi phù hợp, khi các đầu tàu kinh tế thế giới được nhận định đang trên đà phục hồi mạnh mẽ. Và mức lãi suất thấp như hiện nay nhiều khả năng sẽ được duy trì ổn định trong năm 2021.

Ngày 22/9, mặc dù nâng triển vọng tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại Mỹ nhờ tín hiệu tích cực từ chiến dịch tiêm vắc xin phòng Covid-19 và việc sử dụng hàng nghìn tỷ USD kích thích tài chính, song Fed thông báo giữ nguyên lãi suất quỹ liên bang lần thứ 12 liên tiếp ở mức 0 - 0,25% kể từ tháng 3/2020 nhằm tăng cường tốc độ phục hồi việc làm vốn còn  đang chậm.

Tương tự như Fed, dựa trên đánh giá chung về các điều kiện tài chính và triển vọng lạm phát, ngày 9/9, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) quyết định giữ nguyên mức lãi suất cơ bản, lãi suất cho vay trung hạn và lãi suất tiền gửi lần lượt đạt 0%; 0,25% và -0,5% như hiện nay. Mức lãi suất này nhiều khả năng vẫn được duy trì cho đến khi lạm phát đạt mức 2% và ECB đánh giá rằng lạm phát sẽ ổn định ở mức 2% trong trung hạn.

Tại Trung Quốc, cuộc khủng hoảng của 'quả bom nợ' Evergrande khiến lãi suất cho vay qua đêm liên ngân hàng nước này nhờ đó giảm còn 1,68%, mức thấp nhất kể từ cuối tháng 7/2021

Trong khi đó, lãi suất cho vay cơ bản (LPR) vẫn được duy trì ổn định trong bối cảnh nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đang phục hồi mạnh mẽ và thích nghi tốt trước tác động dịch Covid-19. Theo đó, lãi suất cho vay cơ bản kỳ hạn một năm (LPR) được giữ nguyên ở mức 3,85%, trong khi LPR kỳ hạn 5 năm vẫn ở mức 4,65%, lãi suất cho các khoản vay MLF kỳ hạn 1 năm đối với các tổ chức tài chính vẫn ở mức 2,95%.

7.2. Việt Nam

Tín hiệu tích cực từ việc kiểm soát sự lây lan trong cộng đồng của dịch Covid-19 tại các trung tâm kinh tế lớn của cả nước như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh cùng với tình trạng thanh khoản trong hệ thống ngân hàng hiện nay và xu thế chính sách tiền tệ của nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn duy trì ổn định lãi suất cơ bản trong tháng 09//2021 như tháng 12/2020 nhằm tránh gây nhiều xáo trộn đến tiến trình phục hồi sản xuất, kinh tế. Cụ thể:

-         Lãi suất tái cấp vốn: giữ ở mức 4,00%/năm;

-         Lãi suất tái chiết khấu: giữ ở mức 2,50%/năm;

-         Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng:giữ ở mức 5,00%/năm;

-         Lãi suất chào mua giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở:giữ ở mức 2,50%/năm.

Trong khi đó, một số loại lãi suất tiền gửi vẫn duy trì ổn định như tháng 9/2020:

-         Lãi suất đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng VND giữ ở mức 0,5%/năm;

-         Lãi suất đối với tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc bằng VND giữ ở mức 0%/năm;

-         Lãi suất tiền gửi bằng VND của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Quỹ tín dụng nhân dân và Tổ chức tài chính vi mô tại NHNN 0,8%/năm;

-         Lãi suất tiền gửi của Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại NHNN giảm còn 0,8%/năm.

Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng tháng 09/2021 có xu thế tăng trong thời điểm cuối tháng ở phần lớn các kỳ hạn giao dịch ngắn hạn qua đêm, 1 tuần và giảm nhẹ với kỳ hạn trung hạn 1 tháng. Theo đó, lãi suất giao dịch các kỳ hạn qua đêm, 1 tuần lần lượt tăng ở mức 0,05%, 0,02% so với tuần trước đó, lên mức 0,69%, 0,79%/năm. Đây là diễn biến gây chú ý trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước tiếp tục không thực hiện hoạt động bơm/hút ròng mới nào trong tuần qua trên các kênh tín phiếu và thị trường mở.

Như vậy, lãi suất liên ngân hàng đang có xu hướng thiết lập một mặt bằng mới cho năm 2021. Mặc dù cao hơn so với mức nền thấp của năm 2020, tuy nhiên mặt bằng lãi suất liên ngân hàng ở thời điểm hiện tại vẫn thấp hơn so với mặt bằng trước dịch Covid-19 (trên 3% đối với cả 3 loại kỳ hạn qua đêm, 1 tuần và 1 tháng trong năm 2019). Trong nửa cuối năm 2021, với lạm phát được dự báo trong vùng kiểm soát và các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như cuộc sống của người dân vẫn đang chịu ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19, lãi suất được kỳ vọng sẽ tiếp tục duy trì ở mặt bằng thấp như hiện tại để hỗ trợ cho nền kinh tế.

Diễn biến trên tiếp tục cho thấy thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn đang ở trạng thái dồi dào. Đây cũng là một yếu tố để Ngân hàng Nhà nước nhiều khả năng sẽ không điều chỉnh các lãi suất điều hành trong thời gian còn lại của năm nay (trái với 3 lần điều chỉnh giảm trong năm 2020). Nguyên nhân được chỉ ra là do dư địa để giảm của lãi suất điều hành không còn lớn, trong khi dịch bệnh Covid-19 vẫn đang có những diễn biến phức tạp cũng như sự hồi phục kinh tế vẫn đang chưa chắc chắn./.

Từ nửa cuối tháng 9/2021, lãi suất huy động nhiều ngân hàng đã tiếp tục được điều chỉnh giảm trong bối cảnh ngân hàng dồi dào thanh khoản và tín dụng tăng chậm do tác động của dịch Covid-19. Đơn cử ngân hàng ACB hạ lãi suất tất cả các kỳ hạn 0,1 điểm phần trăm. Lãi suất kỳ hạn 1 tháng còn 0,2%, kỳ hạn 3 tháng còn 3,3%, kỳ hạn 9-12 tháng ở điều kiện thường lần lượt là 4,9% và và 5,6%. Đầu tháng ngân hàng này đã hạ lãi suất 10 điểm cơ bản.

Động thái giảm lãi suất huy động của ngân hàng được cho là nhằm cân đối với việc hạ lãi suất cho vay hỗ trợ khách hàng theo kêu gọi của Ngân hàng Nhà nước. Mặt khác trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất vẫn đang duy trì mức thấp và liên tục giảm trong 3 tuần gần đây, cho thấy thanh khoản hệ thống đang dồi dào.

Tính chung trên toàn hệ thống, tới cuối tháng 9/2021, lãi suất huy động gần như giảm so với tháng 08/2021 với các kỳ hạn ngắn hạn dưới 6 tháng, trung hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng, song lại tăng với với kỳ hạn dài hạn 12, 13 tháng. Cụ thể như bảng 7 dưới đây:

Bảng 7: Lãi suất tiền gửi của hệ thống ngân hàng thương mại tháng 09/2021

Kỳ hạn

Tháng 08/2021
(%/năm)

Tháng 09/2021
(%/năm)

Mức biến động (%/năm)

Kỳ hạn dưới 6 tháng

3,3 - 3,5

2,8 – 3,4

(-0,5) – (-0,1)

Kỳ hạn 6 đến dưới 12 tháng

3,7 – 5,0

3,8 – 4,8

0,1 – (-0,2)

Kỳ hạn 12, 13 tháng

4,2 - 6,5

4,5 – 6,8

0,3 – 0,3

Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Ngân hàng Nhà nước

Tiếp tục duy trì ổn định mặt bằng lãi suất mới điều chỉnh từ ngày 15/7, lãi suất cho vayngắn hạn bình quân bằng VND đối với một số ngành lĩnh vực ở mức 4,4%/năm.

Lãi suất trúng thầu của trái phiếu Kho bạc Nhà nướctháng 09/2021 chứng kiến sự biến động theo các kỳ hạn 5 năm, 10 năm, 15 năm, 20 năm, 30 năm so với tháng 08/2021 với xu thế giảm nhẹtại tất cả các kỳ hạn. Trong đó, lãi suất kỳ hạn 5 năm, 30 năm chứng kiến xu hướng giảm đều trong tháng với mức giảm lần lượt là 0,02%/năm và 0,04%/năm. Mức giảm l&

Trở lại
CÁC BÀI VIẾT KHÁC
40 triệu USD hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ (25/12/2010)
Các doanh nghiệp lớn ám ảnh bởi vụ Vinashin (25/12/2010)
Giá vàng và USD quay đầu giảm mạnh (22/02/2011)
Giá mặt bằng bán lẻ Hà Nội - TP HCM cùng hạ nhiệt (19/01/2011)
Vàng ‘rơi’ xuống đáy của 2 tháng (21/01/2011)
Thống đốc Ngân hàng giải trình về lãi suất, lạm phát (25/12/2010)
Vàng vượt 36,3 triệu đồng (15/02/2011)
Báo cáo tài chính nhà nước năm 2018 đang dần hoàn thiện (09/01/2020)
Mặt hàng nào giảm giá mạnh sau kì nghỉ lễ? (06/05/2011)
Nhà đất Hà Nội, Sài Gòn rục rịch giảm giá (23/05/2011)
Sữa nội vẫn chưa chịu giảm theo giá thế giới (31/05/2011)
Giảm mục tiêu tăng trưởng, nới chỉ tiêu lạm phát (06/06/2011)
Thị trường bán lẻ Việt Nam liên tiếp rớt hạng (08/06/2011)
Xe ngoại tăng mạnh trước thời điểm siết thủ tục nhập khẩu (27/06/2011)
Thu hút FDI giảm một nửa (28/06/2011)
Xem tiếp
 
 
         Tin tức & sự kiện mới
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2020 và dự báo 2021
Thông báo v/v nhận Hồ sơ đăng ký xét tuyển thẳng học sinh giỏi ở bậc THPT vào đại học chính quy Học viện Tài chính năm 2020
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2019 và dự báo cả 2020.
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam 6 tháng đầu năm và dự báo cả năm 2019.
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2018 và dự báo 2019
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 11 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 10 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 9 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 8 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 7 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 6 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 5 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 4 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 3 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 2 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 1 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 12 năm 2020
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 11 năm 2020
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 10 năm 2020
Báo cáo phân tích dự báo tháng 9 năm 2020
        Email
        Hình ảnh hoạt động
Khóa học Quản trị Tài chính (từ 14-16/7/2011)
Viện kỷ niệm 86 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam
Bế giảng khóa học Quản trị Tài chính (14/5/2011)
Khóa Quản trị Công ty ngày 7-9/4/2011
Bế giảng khóa học Quản trị Công ty (9/4/2011)
Xem toàn bộ

Viện Kinh tế - Tài chính

162 Nguyễn Văn Cừ - Long Biên - Hà Nội

ĐT: 024 39334139, Fax: 024 38252475

Email: vienkttc@hvtc.edu.vn