Chương trình đào tạo
Các khóa học ngắn hạn
Các khóa học dài hạn
Lịch tuyển sinh
Đăng ký trực tuyến
        Tin nóng
 
         Tìm kiếm thông tin
         Hỗ trợ trực tuyến
Phòng Khoa học và Đào tạo
Bản tin Thị trường
Phòng NC Tài chính
Phòng NC Thị trường Giá cả
Phòng Hành chính Tài vụ
         Liên kết website
         Đối tác khách hàng
         Thông kê truy cập
Online: 2
Visited: 1006386
 
  

 

 

Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 11 năm 2020

1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2020 tăng 0,09% so với tháng Chín – là mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020, tuy nhiên vẫn tăng 2,47%so với cùng kỳ năm trước

1.1. Diễn biến

Theo số liệu vừa được công bố từ Tổng cục Thống kê, CPI tháng 10/2020 chỉ tăng 0,09% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu là dodịch Covid-19 và các biện pháp dãn cách xã hội được thực hiện đã khiến cho sức mua của nền kinh tế giảm mạnh. Điều này được thể hiện qua diễn biến giá cả của các nhóm hàng hóa như sau:

Thứ nhất, trong các nhóm hàng hóa, biến động mạnh nhất là giá dịch vụ giáo dục, tăng 1,52% so với tháng trước. Nguyên nhân là do Nhà nước điều chỉnh giá dịch vụ giáo dục theo lộ trình nhằm tiệm cận với giá thị trường.Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng cũng tăng ở mức vừa phải là 0,29%.

Thứ hai, trong tháng 10/2020 có nhiều hàng hóa giảm giá. Điển hình là giá thực phẩm giảm 0,28% chủ yếu do giá thịt lợn giảm mạnh. Bên cạnh đó, lĩnh vực văn hóa, giải trí, du lịch cũng có giá dịch vụ giảm 0,18% do ảnh hưởng của dịch bệnh. Giá giao thông, bưu chính viễn thông cũng giảm nhẹ, tương ứng 0,08% và 0,03%.

Thứ ba, giá các hàng hóa còn lại biến động không mạnh. Cụ thể, giá đồ uống và thuốc lá tăng 0,08%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,06%, giá thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; giá thiết bị và đồ dùng gia đình không thay đổi.

So với cùng kỳ năm 2019, CPI tháng 10/2020 tăng ở mức 2,47%. Tính chung 10 tháng đầu năm 2020, CPI bình quân tăng 3,71% so với bình quân cùng kỳ năm 2019. Tuy nhiên, chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2020 chỉ tăng 0,09% so với tháng 12/2019 - mức thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020.

Nguyên nhân chính khiến CPI tháng 10/2020 vẫn tăng 2,47% so với cùng kỳ năm 2019 là do:

 

Bảng 1: Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2020

 

CPI tháng 10/2020 so với

CPI bình quân 9 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ năm 2019

Tháng 9
năm 2020

Tháng 12
năm 2019

Tháng 10 năm 2019

Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng

+0,09%

+0,09%

+2,47%

+3,71%

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Thứ nhất, giá lợn hơi cả nước, mặc dù giảmtừ tháng Chín, nhưng vẫn ở mức cao so với cùng kỳ năm ngoái. Kết quả là giá các mặt hàng thực phẩm vẫn tăng 11,21% vàgiá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước.

Thứ hai, các cơ sở giáo dục thực hiện lộ trình tăng học phí làm cho giá dịch vụ giáo dục tháng 10/2020 tăng 4,19% so với tháng 10/2019.

Về lạm phát cơ bản (theo thước đo CPI loại trừ lương thực, thực phẩm, năng lượng và mặt hàng do nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục), tháng 10/2020 tăng 1,88% so với cùng kỳ năm 2019. CPI tháng 10/2020 có mức tăng cao hơn lạm phát cơ bản. Điều này phản ánh tác động mạnh của các yếu tố phi tiền tệ như cung cầu về thịt lợn hay các biện pháp hành chính của Chính phủ.

1.2. Dự báo

Dự báo CPI năm 2020 so với cùng kỳ năm ngoái tăng trung bình 3,3% (+-0,2%).

Tốc độ tăng CPI trung bình trong 10 tháng đầu năm 2020 chỉ ở mức 3,71%, thấp hơn so với mức mục tiêu đặt ra là 4%. Hơn nữa, lạm phát tháng 10/2020hiện cũng chỉ ở mức 2,47% so với cùng kỳ năm trước và 0,09% so với tháng Chín. Do đó, mục tiêu kiềm chế lạm phát dưới 4% trong năm 2020 hoàn toàn đạt được bởi áp lực lạm phát trong 2 tháng cuối năm không nhiều.

Thứ nhất, tình hình dịch bệnh Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp trên thế giới, do đó nền kinh tế thế giới chưa thể phục hồi hoàn toàn trong quý cuối năm 2020, nên giá dầu sẽ khó tăng mạnh. Giá dầu thô hiện dao động quanh mức 40 USD/thùng.

Thứ hai, giá thịt lợn đang trong xu hướng giảm.

Bởi vậy, với mức lạm phát cơ bản hiện khoảng 1,88% so với cùng kỳ năm trước và do chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2020 chỉ tăng 0,09% so với tháng Chín, nên dự báo CPI trung bình năm 2020 sẽ xoay quanh mức 3,3% (+-0,2%)so với cùng kỳ năm 2019, khả năng hoàn thành mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới 4% của Quốc Hội là hoàn toàn khả thi.

2. Dự báogiá bình quân của dầu thô và xăng dầu thành phẩm thế giới tháng 11/2020sẽ tiếp tục giảmtừ0-3% so với tháng 10/2020.

2.1. Thị trường thế giới:

Ngày 08/10/2020, Tổ chức OPEC và Nga (OPEC +) dự kiến tăng sản lượng thêm 2 triệu thùng/ngày vào tháng 1/2021 sau khi cắt giảm sản lượng kỷ lục vào đầu năm 2020.

Trong báo cáo thị trường tháng 10/2020, OPEC giữ nguyên dự báo nhu cầu tiêu thụ dầu thô thế giới năm 2020 giảm 9,5 triệu thùng/ngày, xuống còn 90,29 triệu thùng/ngày, đồng thời hạ dự báo nhu cầu dầu năm 2021 gần 1 triệu thùng/ngày(từ 97,86 triệu thùng/ngày của dự báo tháng 9/2020 xuống còn 96,84 triệu thùng/ngày). Trong khi đó, nguồn cung dầu năm 2020 dự báo tăng 310.000 thùng/ngày lên 92 triệu thùng/ngày (chủ yếu từ Libya với sản lượng hầu như không hoạt động kể từ tháng 1/2020, nhưng cuối tháng 10/2020 đã đạt được 500.000 thùng/ngày và sẽ tiếp tục tăng thêm)…

Theo EIA dữ trữ dầu thô thương mại của Mỹ kết thúc tuần 16/10/2020 giảm 1 triệu thùng/ngày so với tuần trước đó(xuống còn 488,1 triệu thùng).Nhập khẩu dầu thô của Mỹ trung bình 5,1 triệu thùng/ngày, giảm 167 nghìn thùng/ngày so với tuần trước đó (nhập khẩu dầu thô trung bình 4 tuầntrước đó  đạt khoảng 5,3 triệu thùng/ngày, giảm  13,8% so với cùng kỳ năm ngoái)…

Giá dầu thô thế giới trong tháng 10/2020 trong xu hướng giảm bởi sự lây nhiễm của đại dịch Covid-19 hàng ngày mới đạt kỷ lục ở một số bang của Mỹ, Nga, Pháp và nhiều quốc gia khác buộc một số quốc gia phải áp dụng biện pháp phong tỏa mới đã làm suy yếu triển vọng kinh tế toàn cầu.

Như vậy, diễn biến này làm cho:

 - Giá dầu thô bình quân của 3 thị trường Brent, Dubai và West Texas  Intermediate tháng 10/2020 ở mức 39,90USD/thùng (giảm 1,72% so với tháng 9/2020);

- Giá xăng RON 95 bình quân tại thị trường Singapore tháng 10/2020 ở mức 45,83USD/thùng (giảm 3,23% so với tháng 9/2020).

2.2. Thị trường Việt Nam:

Tháng 10/2020, do giá xăng dầu thế giới biến động tăng / giảm tùy từng mặt hàng nên Liên Bộ Công Thương – Tài Chính đã điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu trong nước 2 lần vào ngày 12/10 và 27/10/2020. Cụ thể, giá bán lẻ một số mặt hàng xăng dầu được điều chỉnh như trong bảng 2.

Bảng 2: Giá xăng dầu bán lẻ tại vùng 1 tháng 10/2020

 

Xăng RON 95-III (đồng/lít)

Xăng E5 RON 92-II (đồng/lít)

Dầu hỏa (đồng/lít)

Dầu Diesel 0,05S-II (đồng/lít)

Dầu Mazut 3,5S (đồng/kg)

Mức giá từ ngày 26/9/2020

14.980

14.210

9.440

11.120

10.820

Mức giá từ ngày 12/10/2020

15.120

14.260

9.590

11.120

10.920

Mức giá từ ngày 27/10/2020

14.910

14.100

9.710

11.210

11.260

Mức giá ngày 12/10 so với 26/9/2020

Số tuyệt đối

140

50

150

0

100

%

0,93

0,35

1,59

0,00

0,92

Mức giá ngày 27/10 so với 12/10/2020

Số tuyệt đối

-210

-160

120

90

340

%

-1,39

-1,12

1,25

0,81

3,11

Mức giá ngày 27/10 so với 26/9/2020

Số tuyệt đối

-70

-110

270

90

440

%

-0,47

-0,77

2,86

0,81

4,07

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Petrolimex

Như vậy, giá xăng dầu vùng 1 được điều chỉnh vào ngày 27/10/2020 như sau: giá xăng RON 95-III là 14.910VND/lít (giảm70VND/lít, tương đương 0,47%so với cuối tháng 9/2020); giá xăng E5 RON 92-II là 14.100VND/lít (giảm 110VND/lít, tương đương 0,77%so với cuối tháng 9/2020); dầu hỏa là 9.710VND/lít (tăng270VND/lít, tương đương 2,86%); dầu Diesel 0,05S-II là 11.210VND/lít (tăng 90VND/lít, tương đương 0,81%); dầu Mazut 3,5S là 11.260VND/kg (tăng 440VND/lít, tương đương 4,07%)…

Cùng với việc điều chỉnh giá xăng dầu, Liên Bộ Tài chính - Công Thương đã thực hiện mức trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu trong tháng 10/2020 như được nêu cụ thể ở bảng 3 và 4.

Bảng 3: Mức trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu tháng 10/2020

 

Xăng các loại (trừ xăng sinh học, đồng/lít)

Xăng E5 (đồng/lít)

Dầu hỏa (đồng/lít)

Diesel (đồng/lít)

Mazut các loại (đồng/kg)

Mức trích từ ngày 26/9/2020

100

0

200

400

0

Mức trích từ ngày 12/10/2020

100

0

100

298

0

Mức trích từ ngày 27/10/2020

100

0

100

298

0

Mức trích ngày 12/10 so với 26/9/2020

Số tuyệt đối

0

0

-100

-102

0

%

0,00

0,00

-50,00

-25,50

0,00

Mức trích ngày 27/10 so với 12/10/2020

Số tuyệt đối

0

0

0

0

0

%

0,00

0,00

0,00

0,00

0,00

Mức trích ngày 27/10 so với 26/9/2020

Số tuyệt đối

0

0

-100

-102

0

%

0,00

0,00

-50,00

-25,50

0,00

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Liên Bộ Tài chính - Công Thương

Bảng 4: Mức chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu tháng 10/2020

 

Xăng các loại (trừ xăng sinh học, đồng/lít)

Xăng E5 (đồng/lít)

Dầu hỏa (đồng/lít)

Diesel (đồng/lít)

Mazut các loại (đồng/kg)

Mức chi từ ngày 26/9/2020

524

1.100

0

0

100

Mức chi từ ngày 12/10/2020

524

1.200

100

0

100

Mức chi từ ngày 27/10/2020

300

1.100

100

0

300

Mức chi ngày 12/10 so với 26/9/2020

Số tuyệt đối

0

100

100

0

0

%

0,00

9,09

 

0,00

0,00

Mức chi ngày 27/10 so với 12/10/2020

Số tuyệt đối

-224

-100

0

0

200

%

-42,75

-8,33

0,00

0,00

200,00

Mức chi ngày 27/10 so với 26/9/2020

Số tuyệt đối

-224

0

100

0

200

%

-42,75

0,00

 

0,00

200,00

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Liên Bộ Tài chính - Công Thương

Như vậy so với cuối tháng 9/2020, trong tháng 10/2020 liên Bộ hầu như giữ nguyên hoặc giảm mức trích lập Quỹ bình ổn giá đối với xăng, dầu các loại; giảm chi sử dụng quỹ đối với xăng, nhưng tăng chi sử dụng quỹ đối với dầu các loại. Việc điều hành này đã giúp ổn định giá bán lẻ xăng dầu trong nước...

Dự báo: Thời gian tới giá dầu thô trên thị trường thế giới sẽ biến động khá mạnh bởi diễn biến dịch Covid -19 gây hậu quả nặng nề ở nhiều quốc gia (Pháp, Đức, Ý, Anh, Mỹ…) và tình hình bầu cử Tổng thống ở Mỹ có nhiều biến động khó lường… ảnh hưởng đến khả năng cải thiện nhu cầu dầu của kinh tế thế giới. Cùng với đó, việc Libya nối lại hoạt động xuất khẩu dầu làm cho cung dầu trên thị trường thế giới tăng thêm nữa… Do vậy, dự báo giá bình quânxăng dầu tháng 11/2020 sẽ tiếp tục giảm từ 0-3% so với tháng 10/2020.

3. Dự báo giá lợn hơi tháng 11/2020 sẽ dao động ở mức 70.000 – 75.000 VND/kg.

Trong tháng 10/2020, giá lợn hơi cả nước biến động giảm về ngưỡng 69.000 - 75.500 VND/kg.

Bảng 5: Giá lợn hơi ở Việt Nam tháng 10/2020 (VND/kg)

Khu vực

T10/2020

So với T9/2020

So với T10/2019

Miền Bắc

66.000 –71.000

- 9.500

+ 12.000

Miền Nam

73.00 –78.000

- 4.500

+ 23.000

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu vinanet.vn và nhachannuoi.vn

+ Tại miền Bắc: giá lợn hơi trung bình khoảng 66.000 – 71.000  VND/kg, giảm9.500 VND/kg so với tháng 9/2020.

+ Tại miền Nam:giá lợn hơi trung bình dao động 73.000 – 78.000VND/kg, giảm 4.500 VND/kg so với tháng 9/2020.

Nguyên nhân: Một phần là nhờ nhập khẩu thịt lợn và lợn sống từ nước ngoài giúp bổ sung nguồn cung. Tuy nhiên, nguyên nhân chính là do dịch tả lợn châu Phi cơ bản được kiểm soát, đàn lợn cả nước dần khôi phục; tốc độ tái đàn, tăng đàn tại các địa phương đang rất tốt (đặc biệt là ở khối doanh nghiệp chăn nuôi khi vào cuối tháng 9/2020 đàn lợn tăng tới 143% so với cuối tháng 6/2020). Tính tới đầu tháng 10/2020, tổng số lợn của cả nước tăng khoảng 3,6% so với cùng thời điểm năm 2019; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng riêng quý III/2020 ước đạt 846,2 nghìn tấn, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Thêm vào đó, khu vực miền Trung tháng 10/2020 bị lũ lụt nhiều ngày, người chăn nuôi chuyển lợn vào bán chạy lũ tại thị trường phía Nam… khiến giá lợn hơi giảm mạnh

Dự báo: Tháng 11/2020, dịch tả lợn châu Phi vẫn đang diễn biến khó lường. Bên cạnh đó, do chịu ảnh hưởng nặng nề từ đợt lũ lụt tại miền Trung vừa qua, nguồn cung lợn hơi của cả nước lại bị sụt giảm so với tháng 10/2020. Do vậy, giá lợn hơitháng 11/2020 có thể dao động trong khoảng 70.000 – 75.000 VND/kg.

4. Dự báo tháng 11/2020 so với tháng 10/2020, giá lúa gạo xuất khẩu sẽ tăng nhẹ.

4.1. Giá xuất khẩu:

Tháng 10/2020, giá gạo của một số nước xuất khẩu lớn có diễn biến tăng/ giảm trái chiều so với tháng 9/2020. Cụ thể, giá gạo của một số nước được phản ánh như trong bảng6 và đồ thị 5.

Bảng 6: Giá bình quân xuất khẩu gạo 5% tấm của Thái Lan, Ấn Độ và Việt Nam          tháng 10/2020

 

Gạo 5% tấm Thái Lan (USD/tấn)

Gạo 5% tấm

Ấn Độ (USD/tấn)

Gạo 5% tấm Việt Nam (USD/tấn)

Giá bình quân tháng 10/2019

411

374

326

Giá bình quân tháng 9/2020

492

386

483

Giá bình quân tháng 10/2020

460

375,5

486

Mức giá T10/2020 so với T9/2020

Số tuyệt đối

         - 32

- 10,5

+3

%

- 6,5

- 2,7

+ 0,62

Mức giá T10/2020 so với T10/2019

Số tuyệt đối

+54

+ 4,5

+ 45

%

+13,37

+ 1,12

+ 13,20

Nguồn: Tính toán từ số liệu của FAO và Reuters

Nguyên nhân:

+ Tại Thái Lan, giá gạo xuất khẩu giảm do nhu cầu giảm.

+ Tại Ấn Độ, xuất khẩu chậm lại vì các nhà xuất khẩu rất khó khăn do thiếu xe chở gạo ở cảng biển vì hiện tượng tắc nghẽn ở cảng xuất khẩu gạo chính. Cước phí vận tải container tăng mạnh cũng ảnh hưởng tới hoạt động giao dịch gạo. Giá gạo trong nước giảm do nhu cầu yếu và đồng nội tệ giảm.

+ Tại Việt Nam,mưa nhiều và bão, lũ đã ảnh hưởng tới vụ thu hoạch đang diễn ra, làm ảnh hưởng tới nguồn cung. Ngoài ra, mưa còn ảnh hưởng tới chất lượng lúa Thu Đông, giá lúa mới thu hoạch ở những vùng mưa lũ giảm vì chất lượng kém. Bên cạnh đó, tình hình lũ lụt nghiêm trọng ở miền Trung khiến nhu cầu tăng cao, góp phần đẩy giá lúa gạo tăng…

4.2. Giá lúa gạo tại Việt Nam:

Trên thị trường nội địa, tháng 10/2020 giá các loại lúa, gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có diễn biến giảm so với tháng 9/2020. Theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương, tại An Giang, lúa OM6976 ở mức 6.060 - 6.170VND/kg (tăng 30 VND/kg),  IR50404 ở mức 6.800 - 7.000VND/kg, (giảm200 VND/kg); gạo thường ở mức 10.200 – 11.500 VND/kg (giảm 100 VND/kg); gạo thơm đặc sản jasmine ở mức 14.700 – 15.500 VND/kg (giảm 300 VND/kg). Riêng gạo hạt dài ở mức 18.000 – 19.000 VND/kg, không thay đổi so với tháng 9/2020.

Bảng 7: Giá một số loại lúa gạo tại An Giang tháng 9/2020 (VND/kg)

Loại lúa gạo

Giá T10/2020

So với T9/2020

So với T10/2019

Lúa IR 50404 (lúa khô)

6.800 – 7.000

-200

+2.100

Gạo IR50404

10.200 – 11.500

-100

+ 850

Gạo chất lượng cao

18.000 – 19.000

-

+ 5.500

Gạo thơm jasmine

14.700 – 15.500 

-300

+1.100

Nguồn: Tổng hợp số liệu của Bộ NN&PTNN và thitruongnongsan.gov.vn

Dự báo: Tháng 11/2020 trên thị trường gạo châu Á, diễn biến giá gạo có thể tăng nhẹ so với tháng 10/2020 do ảnh hưởng của điều kiện thời tiết không thuận lợi...

5. Dự báo tháng 11/2020 so tháng10/2020,giá cà phê thế giới có thể giảm 2-5%, giá cà phê nội địa Việt Nam sẽ ổn định hoặc tăng nhẹ.

5.1. Thị trường thế giới

Tháng 10/2020, giá cà phê Robusta và Arabica có diễn biến giảm, cụ thể:

- Tại sàn giao dịch London, giá cà phê Robusta bình quân tháng 10/2020 ở mức 1.291 USD/tấn(giảm 6,38% so tháng 9/2020);

- Tại sàn giao dịch ICE New York, giá cà phê Arabica bình quân tháng 10/2020 ở mức 2.370 USD/tấn (giảm 11,4% so tháng 9/2020). 

5.2. Thị trường Việt Nam

Trong nửa cuối tháng 10/2020, tại thị trường Việt Nam, giá cà phê có xu hướng giảm nhẹ. Tính chung cả tháng 10/2020, giá cà phê Robusta ở khoảng 31.400 –31.900 VND/kg (giảm 1.200 VND/kg so với tháng 9/2020); giá xuất khẩu cà phê bình quân tháng 10/2020 ước đạt mức 1,85 USD/kg (giảm 1,6% so với tháng 9/2020 và tăng 2,2% so với tháng 10/2019).

Nguyên nhân: Tổ chức Cà phê Quốc tế ước tính, lượng dư thừa cà phê toàn cầu trong niên vụ 2019/20 sẽ ở mức 1,54 triệu bao, do tiêu thụ bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19. Bên cạnh đó, đồng nội tệ Brazil (Real) trượt giá so với USD đã gia tăng áp lực giảm giá lên cà phê Arabica. Do đó, giá cà phê tại thị trường nội địa cũng giảm theo đà giảm của giá thế giới.

Dự báo: Trong tháng 11/2020, giá cà phê trên thị trường thế giới có thể giảm từ 2 – 5% so tháng 10/2020 do tình hình dịch Covid – 19 trên thế giới diễn biến xấu đi, ảnh hưởng lớn đến nhu cầu tiêu thụ cà phê toàn cầu. Đồng thời, sản lượng cà phê của Brazil niên vụ 2020/21 dự báo tăng theo chu kỳ sẽ làm tăng nguồn cung cà phê trong thời gian tới.Tại Việt Nam, giá cà phê có thể tăng nhẹ khi mưa lớn và gió mạnh do bão tháng 10/2020 vừa qua ảnh hưởng nghiêm trọng đến khu vực trồng cà phê chủ chốt của Việt Nam, khiến nhiều cây cà phê bị gãy đổ và ảnh hưởng lớn đến việc thu hoạch…

6. Dự báo giá cao su tháng 11/2020 có thể tiếp tục tăng từ5-8% so với tháng 10/2020.

6.1. Thị trường thế giới

Tháng 10/2020,giá cao su TSR20 bình quân trên sàn giao dịch SGX/SICOM (Singapore) tăng mạnh lên mức 2.172 USD/tấn (tăng 29,44% so tháng 9/2020; giá cao su RSS3 bình quân trên sàn giao dịch SICOM tăng lên 1.506 USD/tấn (tăng10,74 % so tháng 9/2020).

6.2. Thị trường Việt Nam

Ở Việt Nam, giá mủ cao su nguyên liệu trong tháng 10/2020 tiếp tục có diễn biến tăng: Công ty TNHH MTV Tổng Công ty Cao su Đồng Nai trong tháng 10/2020 đã thu mua mủ cao su (loại mủ chén, khô) với giá trung bình là 12.450VND/kg tăng 14,12% so với tháng 9/2020.

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, giá cao su xuất khẩu của Việt Nam tháng 10/2020 trung bình đạt 1,329USD/kg (tăng 3,26% so với tháng 9/2020 và tăng 1,92% so với tháng 10/2019).

Nguyên nhân:Giá cao su thế giới tăng do hoạt động kinh tế tại các nước tiêu thụ lớn dần được cải thiện, đặc biệt là lạc quan về sự phục hồi kinh tế tại nước mua cao su hàng đầu (Trung Quốc) đã củng cố thị trường, đẩy giá cao su tăng. Đồng thời, lo ngại bất ổn chính trị tại nước sản xuất hàng đầu là Thái Lan cũng làm gia tăng áp lực tăng giá cao su.

Ở thị trường Việt Nam,giá cao su nguyên liệu cũng tăng theo xu hướng chung của giá cao su thế giới…

Dự báo: Giá cao su tự nhiên trong tháng 11/2020 có thể sẽ tiếp tục tăng từ 5-8% so với tháng 10/2020 do nhu cầu về găng tay bảo hộ tăng mạnh bởi đại dịch Covid-19 và nhu cầu sử dụng cao su trong lĩnh vực công nghiệp hồi phục tại Trung Quốc, cùng với nguồn cung khan hiếm do các nhà sản xuất bổ sung dự trữ…

7. Lãi suất trong tháng 11/2020tiếp tục xu hướng giảm nhẹ do ảnh hưởng của dịch Covid-19.

7.1. Thế giới

Với tín hiệu tiêu cực từ sự bùng phát trở lại của dịch Covid-19 tại châu Âu cùng với quá trình phục hồi kinh tế diễn ra trái chiều giữa Mỹ, Trung Quốc và khu vực Eurozone, Ngân hàng Trung ương các nước nhìn chung vẫn đưa ra quyết định thận trọng, giữ nguyên các mức lãi suất cơ bản trong tháng 10/2020như các tháng trước nhằm tránh gây ra tâm lý hoang mang cho giới đầu tư, ảnh hưởng tiêu cực đến việc phục hồi nền kinh tế. Và mức lãi suất thấp như hiện nay nhiều khả năng sẽ được duy trì ổn định đến cuối năm 2020.

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) quyết định giữ nguyên phạm vi mục tiêu cho lãi suất quỹ liên bang ở mức 0 - 0,25% trước tín hiệu tích cực cho thấy hoạt động kinh tế và việc làm đã tăng lên trong những tháng gần đây, tuy nhiên vẫn ở mức thấp hơn nhiều so với đầu năm 2020. Bên cạnh đó, nhu cầu yếu hơn và giá dầu thấp hơn đáng kể đang kìm hãm lạm phát giá tiêu dùng. Mức lãi suất này được cam kết duy trì cho đến khi thị trường lao động đạt toàn dụng nhân công và lạm phát ở mức mong muốn (khoảng 2%).

Ngày 29/10, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) thông báo đã quyết định giữ nguyên lãi suất chủ chốt và chương trình kích thích kinh tế.Quyết định này đưa ra trong bối cảnh Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) tiếp tục chật vật đối phó với sự suy thoái do đại dịch viêm đường hô hấp cấp Covid-19 gây ra. Kết thúc cuộc họp chính sách tiền tệ được tổ chức trực tuyến, các nhà lãnh đạo của ECB quyết định tiếp tục duy trì lãi suất cơ bản ở mức 0% với lãi suất cho vay trung hạn và lãi suất tiền gửi được giữ nguyên lần lượt là 0,25% và -0,5%.

Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBoC) thông báo giữ nguyên lãi suất cho vay cơ bản (LPR) đúng như kỳ vọng của thị trường, trong bối cảnh nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đang phục hồi sau dịch Covid-19 sau cuộc họp ngày 20/10. Theo đó, lãi suất cho vay cơ bản kỳ hạn một năm (LPR) được giữ nguyên ở mức 3,85%, trong khi LPR kỳ hạn năm năm vẫn ở mức 4,65%, lãi suất cho các khoản vay MLF kỳ hạn một năm đối với các tổ chức tài chính vẫn ở mức 2,95%.

7.2. Việt Nam

Dưới tác động của dịch Covid-19 đến tình hình kinh tế - tài chính trong nước và thế giới, cùng với mức độ dư thừa trong thanh khoản hệ thống ngân hàng rất dồi dào, tình hình lãi suất Việt Nam ghi nhận diễn biến trái chiều giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất trái phiếu.

Theo đó, trên cơ sở đánh giá diễn biến thị trường quốc tế cùng với nền tảng kinh tế vĩ mô trong nước dưới tác động tiêu cực bởi dịch Covid-19, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quyết định điều chỉnh các mức lãi suất, có hiệu lực từ ngày 1/10/2020. Đây là lần giảm lãi suất điều hành thứ III trong năm nay.Cụ thể:

-         Lãi suất tái cấp vốn: giảm từ 4,50%/năm xuống 4,00%/năm;

-         Lãi suất tái chiết khấu: giảm từ 3,00%/năm xuống 2,50%/năm;

-         Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng:giảm 5,50%/năm xuống 5,00%/năm;

-         Lãi suất chào mua giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở: từ 3,00%/năm xuống 2,50%/năm.

Bảng 8: Lãi suất điều hành của NHNN tháng 10/2020

Loại lãi suất

13/5/2020-1/10/2020

(%/năm)

1/10/2020-31/10/2020

(%/năm)

Mức giảm

(%/năm)

 Lãi suất tái chiết khấu

3,00

2,50

-0,50

Lãi suất tái cấp vốn

4,50

4,00

-0,50

Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng

 5,50

 5,00

-0,50

Lãi suất chào mua giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở

3,00

2,50

-0,50

Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Ngân hàng Nhà nước

Trong khi đó, một số loại lãi suất tiền gửi vẫn duy trì ổn định như tháng 9/2020

-       Lãi suất đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng VND giữ ở mức 0,5%/năm;

-       Lãi suất đối với tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc bằng VND giữ ở mức 0%/năm;

-       Lãi suất tiền gửi bằng VND của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Quỹ tín dụng nhân dân và Tổ chức tài chính vi mô tại NHNN 0,8%/năm;

-       Lãi suất tiền gửi của Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại NHNN giảm còn 0,8%/năm.

Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng tháng 10/2020 tiếp tục duy trì ổn định, phổ biến dao động trong khoảng từ 0,1% đến 0,76% với các kỳ hạn qua đêm, 1 tuần và 1 tháng, trong đó lãi suất kỳ hạn 1 tháng có biên độ dao động giảm 0,1% so với cùng kỳ hạn tháng 9/2020, trong khi lãi suất kỳ hạn qua đêm tiếp tục được duy trì ở mức 0,1%/năm, như tháng 9/2020, chạm đáy thấp nhất trong vòng 2 năm vừa qua.

Nguyên nhân chủ yếu là do: (i) thanh khoản của hệ thống vẫn ở trạng thái tích cực; (ii) ảnh hưởng từ của đại dịch Covid-19 và quyết định giảm lãi suất điều hành của NHNN có hiệu lực từ ngày 1/10; và (iii) thị trường tiền tệ cơ bản ổn định, tăng trưởng tín dụng tháng 10/2020 có dấu hiệu phục hồi khi tăng thêm 1 điểm phần trăm so với các tháng trước, đạt 6,15% so với cuối năm 2019.

Trước ảnh hưởng từ dịch Covid-19 và việc điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng của NHNN vào ngày 6/8/2020, lãi suất huy động bằng VNDcác kỳ hạn 6 tháng và kỳ hạn 12 tháng ở tất cả các nhóm ngân hàng.

Cụ thể, đối với kỳ hạn 6 tháng, lãi suất của nhóm ngân hàng gốc quốc doanh giảm 0,3 %/năm; lãi suất của nhóm ngân hàng cổ phần có quy mô nhỏ vốn dưới 5.000 tỷ đồng giảm 0,072%; lãi suất của nhóm ngân hàng cổ phần có quy mô lớn vốn trên 5.000 tỷ đồng giảm 0,493%. Trong khi đó, đối với kỳ hạn 12 tháng, lãi suất của nhóm ngân hàng gốc quốc doanh tiếp tục sụt giảm mạnh nhất (-0,475%). Lãi suất của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần có quy mô nhỏ vốn dưới 5.000 tỷ đồng và lãi suất của nhóm ngân hàng cổ phần có quy mô lớn vốn trên 5.000 tỷ đồng có mức giảm lần lượt là 0,052% và 0,323%.

Tính chung trên toàn hệ thống, khoảng dao động phổ biến của lãi suất huy động trong tháng 10/2020 tại tất cả các kỳ hạn đều có xu hướng giảm so với tháng 9/2020 trong đó các kỳ hạn dưới 6 tháng và từ 6 đến dưới 12 tháng chứng kiến mức giảm mạnh nhất, đạt 0,2%. Cụ thể như bảng 9 dưới đây:

Bảng 9: Lãi suất tiền gửi của hệ thống ngân hàng thương mại tháng 10/2020

Kỳ hạn

Tháng 9/2020 (%/năm)

Tháng 10/2020 (%/năm)

Mức giảm (%/năm)

Kỳ hạn dưới 6 tháng

3,7 - 4,1

3,3-3,9

-0,2

Kỳ hạn6 đến dưới 12 tháng

4,4 - 6,4

4,4-6,2

-0,2

Kỳ hạn 12, 13 tháng

6,0 - 7,1

6,0-7,0

-0,1

Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Ngân hàng Nhà nước

Tương tự như lãi suất huy động, từ đầu tháng 10/2020, hầu hết các ngân hàng, tổ chức tín dụng đều đã thông báo giảm lãi suất cho vay bằng VND để giảm bớt gánh nặng chi phí.trong bối cảnh khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế còn khiêm tốn, lãi suất liên ngân hàng cùng lãi suất trái phiếu Chính phủ ở mức thấp. Hiện lãi suất cho vay ngắn hạn tối đabằng VND đối với một số ngành lĩnh vực ở mức 4,5%/năm.

Lãi suất trúng thầu của trái phiếu Kho bạc Nhà nước tháng 10/2020chứng kiến sự biến động theo các kỳ hạn 5 năm, 10 năm, 15 năm, 20 năm, 30 năm so với tháng 9/2020 với xu thế giảm tại tất cả các kỳ hạn.

Mức giảm lãi suất trúng thầu của trái phiếu Kho bạc Nhà nước trong tháng 10/2020 so với tháng 9/2020 dao động từ 0,13% đến 0,46%/năm. Trong đó, lãi suất trúng thầu tại kỳ hạn 5 năm giảm mạnh nhất với mức giảm trong phiên phát hành cuối tháng 10/2020 là 0,46%/năm.

Bảng 10: Lãi suất trúng thầu của trái phiếu Kho bạc Nhà nước
tháng 10/2020 so với tháng 9/2020

STT

Trở lại
CÁC BÀI VIẾT KHÁC
40 triệu USD hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ (25/12/2010)
Các doanh nghiệp lớn ám ảnh bởi vụ Vinashin (25/12/2010)
Giá vàng và USD quay đầu giảm mạnh (22/02/2011)
Giá mặt bằng bán lẻ Hà Nội - TP HCM cùng hạ nhiệt (19/01/2011)
Vàng ‘rơi’ xuống đáy của 2 tháng (21/01/2011)
Thống đốc Ngân hàng giải trình về lãi suất, lạm phát (25/12/2010)
Vàng vượt 36,3 triệu đồng (15/02/2011)
Báo cáo tài chính nhà nước năm 2018 đang dần hoàn thiện (09/01/2020)
Mặt hàng nào giảm giá mạnh sau kì nghỉ lễ? (06/05/2011)
Nhà đất Hà Nội, Sài Gòn rục rịch giảm giá (23/05/2011)
Sữa nội vẫn chưa chịu giảm theo giá thế giới (31/05/2011)
Giảm mục tiêu tăng trưởng, nới chỉ tiêu lạm phát (06/06/2011)
Thị trường bán lẻ Việt Nam liên tiếp rớt hạng (08/06/2011)
Xe ngoại tăng mạnh trước thời điểm siết thủ tục nhập khẩu (27/06/2011)
Thu hút FDI giảm một nửa (28/06/2011)
Xem tiếp
 
 
         Tin tức & sự kiện mới
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2020 và dự báo 2021
Thông báo v/v nhận Hồ sơ đăng ký xét tuyển thẳng học sinh giỏi ở bậc THPT vào đại học chính quy Học viện Tài chính năm 2020
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2019 và dự báo cả 2020.
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam 6 tháng đầu năm và dự báo cả năm 2019.
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2018 và dự báo 2019
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 10 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 9 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 8 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 7 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 6 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 5 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 4 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 3 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 2 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 1 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 12 năm 2020
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 11 năm 2020
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 10 năm 2020
Báo cáo phân tích dự báo tháng 9 năm 2020
Báo cáo phân tích dự báo tháng 8 năm 2020
        Email
        Hình ảnh hoạt động
Khóa học Quản trị Tài chính (từ 14-16/7/2011)
Viện kỷ niệm 86 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam
Bế giảng khóa học Quản trị Tài chính (14/5/2011)
Khóa Quản trị Công ty ngày 7-9/4/2011
Bế giảng khóa học Quản trị Công ty (9/4/2011)
Xem toàn bộ

Viện Kinh tế - Tài chính

162 Nguyễn Văn Cừ - Long Biên - Hà Nội

ĐT: 024 39334139, Fax: 024 38252475

Email: vienkttc@hvtc.edu.vn