Chương trình đào tạo
Các khóa học ngắn hạn
Các khóa học dài hạn
Lịch tuyển sinh
Đăng ký trực tuyến
        Tin nóng
 
         Tìm kiếm thông tin
         Hỗ trợ trực tuyến
Phòng Khoa học và Đào tạo
Bản tin Thị trường
Phòng NC Tài chính
Phòng NC Thị trường Giá cả
Phòng Hành chính Tài vụ
         Liên kết website
         Đối tác khách hàng
         Thông kê truy cập
Online: 3
Visited: 1011768
 
  

 

 

Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 11 năm 2021

1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2021 giảm 0,2% so với tháng trước tăng1,77% so với tháng 10/2020. Bình quân 10 tháng đầu năm 2021, CPI tăng 1,81% so với cùng kỳ năm trước, vẫn là mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016.

1.1. Diễn biến

Theo số liệu vừa được công bố từ Tổng cục Thống kê, CPI tháng 10/2021giảm 0,2% so với tháng 9/2021. Nguyên nhân chủ yếu là do:

- Thứ nhất,nguồn cung dồi dào khiến giá thịt lợn và giá gạo lần lượt giảm 9,38% và 0,25% tác động làm cho giá nhóm thực phẩm và lương thực tháng 10/2021 giảm tương ứng 2,05% và0,17% so với tháng trước. Gộp chung lại, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,28% so với tháng trước (làm CPI chung giảm 0,43 điểm phần trăm)

- Thứ hai, nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tháng 10/2021 giảm 0,26%, chủ yếu do giá tiền thuê nhà giảm để hỗ trợ người dân gặp khó khăn trong đại dịch Covid-19; cùng với đó, giá điện sinh hoạt, nước sinh hoạt giảm do thời tiết sang thu nên nhu cầu sử dụng giảm so với tháng trước.

Trong khi đó, áp lực gây tăng giá các mặt hàng trong tháng qua vẫn còn yếu ớt. Nhóm giao thông có mức tăng so với tháng trước cao nhất với 2,51% (làm CPI chung tăng 0,24 điểm phần trăm) do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh tăng giá xăng, dầu vào ngày 25/9/2021, 11/10/2021 và 26/10/2021. Một số nhóm hàng có mức giá tháng Mười được ghi nhận tăng so với tháng trước nhưng không nhiều như nhóm giáo dục, nhóm đồ uống và thuốc lá, nhóm may mặc,…

So với năm 2020, CPI tháng 10/2021 tăng 1,77% so với tháng 10/2020 và tăng 1,67%so với tháng 12/2020. Bình quân 10 tháng đầu năm 2021, CPI tăng 1,81% so với cùng kỳ năm trước, đây vẫn là mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016 tới nay. 

 

CPI tháng 10/2021 so với

CPI bình quân 10 tháng đầu năm 2021 so với cùng kỳ năm 2020

Tháng 9
năm 2021

Tháng 12
năm 2020

Tháng 10 năm 2020

Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng

-0,2%

+1,67%

+1,77%

+1,81%

Nguyên nhân chính khiến CPI  tháng 10/2021 vẫn tăng1,77% so với cùng kỳ năm 2020 là do:

- Thứ nhất, nhóm giao thông tăng cao nhất với 16,52% so với tháng 10/2020, chủ yếu do từ tháng 11/2020 đến nay giá xăng dầu đã tăng 51,26% so với cùng kỳ năm trước.

- Thứ hai, nhóm lương thực tăng 4,31% do giá gạo tăng 4,25% so với cùng kỳ năm trước.

- Thứ ba, nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,16% chủ yếu do chi phí vận chuyển tăng và nguồn cung thuốc lá giảm.

Bên cạnh đó, một số yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI tháng 10/2021 đó là một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương miễn giảm học phí năm học 2021-2022tháng 9-10/2021 làm cho giá nhóm giáo dục giảm 2,16%; giá phụ kiện điện thoại thông minh giảm làm cho giá nhóm bưu chính, viễn thông giảm 0,9%; giá du lịch trọn gói và giá khách sạn, nhà khách giảm khi chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19 khiến giá nhóm văn hóa, giải trí, du lịch giảm 0,49% so với cùng kỳ năm trước.

Về lạm phát cơ bản (theo thước đo CPI loại trừ lương thực, thực phẩm, năng lượng và mặt hàng do nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục), tháng 10/2021 giảm 0,17% so với tháng trước, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 10 tháng năm 2021, lạm phát cơ bản tăng 0,84% so với cùng kỳ năm 2020, thấp hơn mức CPI bình quân chung (tăng 1,81%), điều này phản ánh biến động giá tiêu dùng chủ yếu do giá lương thực, giá xăng, dầu và giá gas tăng. Mức lạm phát cơ bản tháng Mười và 10 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước đều là mức thấp nhất kể từ năm 2011.

1.2. Dự báo

Dự báo CPI năm 2021 tăng trung bình 2,5% (+-0,25%)

Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng hiện tại tháng 10/2021 đang ở mức -0,2% so với tháng trước và chỉ tăng 1,67% so với tháng 12/2020. Như vậy, trong vòng 10 tháng qua CPI tăng trung bình chỉ khoảng 0,14%/tháng. Tổng cầu yếu do Covid-19 là nguyên nhân cơ bản giữ cho lạm phát tại Việt Nam được duy trìở mức thấp trong bối cảnh giá các hàng hóa cơ bản trên thế giới tăng cao. Tuy nhiên, với sự bao phủ của vacxin Covid-19, các địa phương dần nới lỏng giãn cách và các hoạt động sản xuất kinh doanh đang quay trở lại bình thường trong những tháng cuối năm. Giả định, tốc độ tăng CPI trong 2 tháng cuối năm là 1,5%/tháng so với tháng trước thì lạm phát trung bình cả năm 2021 vẫn chỉ ở mức 2,14% .

Bên cạnh đó, biến chủng Delta vẫn đang là mối đe dọa tại nhiều quốc gia trên thế giới, khiến cho giá dầu khó có thể tăng mạnh trong thời gian tới. Chúng tôi vẫn giữ nguyên mức dự báo lạm phát trung bình trong năm 2021 sẽ vào khoảng 2,5% (+-0,25%) và nhiều khả năng dưới mức 3%.

Như vậy, mục tiêu kiềm chế lạm phát trung bình cả năm ở mức dưới 4% trong năm 2021 chắc chắn sẽđạt được.

 

2. Dự báog bình quân của dầu thô và xăng dầu thành phẩm thế giới tháng 11/2021sẽ tăng từ 3-7% so với tháng 10/2021.

2.1. Thị trường thế giới:

Ngày 4/10/2021 OPEC+ đã nhóm họp tái khẳng định kế hoạch điều chỉnh sản lượng mà các nước thành viên đã thống nhất trước đó. Theo đó, tổ chức OPEC+ sẽ tăng sản lượng thêm 400 nghìn thùng dầu/ngày trong tháng 11/2021.

Số liệu từ công ty dịch vụ năng lượng Baker Hughes (Mỹ), khả năng sản lượng dầu của Mỹ có thể sẽ giảm xuống, khi số giàn khoan dầu của Mỹ đã giảm 2 giàn xuống còn 443 giàn ở tuần đến ngày 22/10/2021. Đây là tuần đầu tiên số giàn khoan của Mỹ giảm xuống trong bảy tuần qua…

OPEC dự báo nhu cầu dầu toàn cầu trong năm 2021 sẽ tăng 6 triệu thùng/ngày, không thay đổi so với dự báo của tháng trước, đạt 96,6 triệu thùng/ngày.

OPEC+ dự báo tăng trưởng nhu cầu tiêu thụ dầu thô của năm 2022 sẽ lên tới 4,2 triệu thùng/ngày, tăng so với con số dự báo trước đó là 3,28 triệu thùng/ngày.

Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho biết cuộc khủng hoảng của ngành năng lượng đang lan từ khí đốt sang thị trường dầu mỏ và nhu cầu trong những tháng tới có thể tăng thêm 500.000 thùng/ngày.

Giá dầu thô thế giới tháng 10/2021 tiếp tục tăng mạnh trong bối cảnh nguồn cung hạn chế bởi một số nước thành viên OPEC+ không thể thực hiện nâng mức sản lượng như đã thỏa thuận, cộng với tình trạng thiếu than và khí đốt ở Trung Quốc, Ấn Độ và châu Âu phải chuyển sang dùng dầu. Trong khi nhu cầu tăng mạnh vì mùa đông đến sớm tại các khu vực Châu Á, Châu Âu và Bắc Mỹ đã đẩy giá dầu tăng lên mức cao nhất tính từ tháng 10/2014...

Diễn biến này làm cho:

- Giá dầu thô bình quân của 3 thị trường Brent, Dubai và West Texas  Intermediate tháng 10/2021 ở mức 82,06USD/thùng (tăng 12,72% so với tháng 9/2021);

- Giá xăng RON 95 bình quân tại thị trường Singapore tháng 10/2021 ở mức 97,87USD/thùng (tăng 16,68% so với tháng 9/2021).

 

2.2. Thị trường Việt Nam:

Tháng 10/2021, do giá xăng dầu thế giới biến động theo xu hướng tăng khá mạnh nên Liên Bộ Công Thương - Tài Chính đã điều chỉnh tăng giá bán lẻ xăng dầu vào ngày 11/10 và 26/10/2021. Cụ thể, giá bán lẻ một số mặt hàng xăng dầu được điều chỉnh như trong bảng 1.

Bảng 1: Giá xăng dầu bán lẻ tại vùng 1 tháng 10/2021

 

Xăng RON 95-III (đồng/lít)

Xăng E5 RON 92-II (đồng/lít)

Dầu hỏa (đồng/lít)

Dầu Diesel 0,05S-II (đồng/lít)

Dầu Mazut 3,5S (đồng/kg)

Mức giá từ ngày 25/09/2021

21.940

20.710

15.640

16.580

16.580

Mức giá từ ngày 11/10/2021

22.870

21.680

16.620

17.540

17.090

Mức giá từ ngày 26/10/2021

24.330

23.110

17.630

18.710

17.210

Mức giá ngày 11/10 so với 25/09/2021

Số tuyệt đối

930

970

980

960

510

%

4,24

4,68

6,27

5,79

3,08

Mức giá ngày 26/10 so với 11/10/2021

Số tuyệt đối

1.460

1.430

1.010

1.170

120

%

6,38

6,60

6,08

6,67

0,70

Mức giá ngày 26/10 so với 25/09/2021

Số tuyệt đối

2.390

2.400

1.990

2.130

630

%

10,89

11,59

12,72

12,85

3,80

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Petrolimex

Như vậy, giá xăng dầu vùng 1 được điều chỉnh vào ngày 26/10/2021 như sau: giá xăng RON 95-III là 24.330VND/lít (tăng2.390VND/lít, tương đương 10,89% so với cuối tháng 9/2021); giá xăng E5 RON 92-II là 23.110VND/lít (tăng2.400VND/lít, tương đương 11,59%); dầu hỏa là 17.630VND/lít (tăng1.990VND/lít, tương đương 12,72%); dầu Diesel 0,05S-II là 18.710VND/lít (tăng2.130VND/lít, tương đương 12,85%); dầu Mazut 3,5S là 17.210VND/kg (tăng 630VND/kg, tương đương 3,80%)…

Cùng với việc điều chỉnh giá xăng dầu, Liên Bộ Tài chính - Công Thương đã thực hiện mức trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu trong tháng 10/2021 như được nêu cụ thể ở bảng 2 và 3.

Bảng 2: Mức trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu tháng 10/2021

 

Xăng các loại (trừ xăng sinh học, đồng/lít)

Xăng E5 (đồng/lít)

Dầu hỏa (đồng/lít)

Diesel (đồng/lít)

Mazut các loại (đồng/kg)

Mức trích từ ngày 25/09/2021

150

0

200

200

100

Mức trích từ ngày 11/10/2021

0

0

0

0

100

Mức trích từ ngày 26/10/2021

0

0

0

0

100

Mức trích ngày 11/10 so với 25/09/2021

Số tuyệt đối

-150

0

-200

-200

0

%

-100,00

0,00

-100,00

-100,00

0,00

Mức trích ngày 26/10 so với 11/10/2021

Số tuyệt đối

0

0

0

0

0

%

0,00

0,00

0,00

0,00

0,00

Mức trích ngày 26/10 so với 25/09/2021

Số tuyệt đối

-150

0

-200

-200

0

%

-100,00

0,00

-100,00

-100,00

0,00

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Liên Bộ Tài chính - Công Thương

Bảng 3: Mức chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu tháng 10/2021

 

Xăng các loại (trừ xăng sinh học, đồng/lít)

Xăng E5 (đồng/lít)

Dầu hỏa (đồng/lít)

Diesel (đồng/lít)

Mazut các loại (đồng/kg)

Mức chi từ ngày 25/09/2021

0

850

0

0

0

Mức chi từ ngày 11/10/2021

0

950

100

150

0

Mức chi từ ngày 26/10/2021

400

1.100

100

150

0

Mức chi ngày 11/10 so với 25/09/2021

Số tuyệt đối

0

100

100

150

0

%

0,00

11,76

0,00

0,00

0,00

Mức chi ngày 26/10 so với 11/10/2021

Số tuyệt đối

400

150

0

0

0

%

 

15,79

0,00

0,00

0,00

Mức chi ngày 26/10 so với 25/09/2021

Số tuyệt đối

400

250

100

150

0

%

 

29,41

 

 

0,00

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Liên Bộ Tài chính - Công Thương

Như vậy so với cuối tháng 9/2021, tháng 10/2021 liên Bộ tiếp tục không thực hiện trích lập Quỹ bình ổn giá đối với xăng các loại, với dầu hỏa và diezel, giữ nguyên mức trích với Mazut các loại; tiếp tục không thực hiện chi sử dụng quỹ đối với Mazut các loại, tăngmức chi sử dụng quỹ khá mạnh đối với xăng các loại, với dầu hỏa và diezel. Việc điều hành này đã khiến cho giá bán lẻ xăng dầu trong nước tháng 10/2021 so tháng 9/2021 tăng chậm hơn so với mức tăng chung của giá xăng dầu thế giới...

Dự báo: Nguồn cung dầu bị hạn chế bởi OPEC+ vẫn quyết định giữ nguyên kế hoạch chỉ tăng sản lượng 400.000 thùng/ngày như đã đề ra trước đó. Trong khi nhu cầu gia tăng bởi kinh tế thế giới đang trên đà hồi phục, cộng với việc khủng hoảng năng lượng than và khí đốt ở châu Âu, Trung Quốc sẽ khiến giá dầu có thể tiếp tục tăng. Vì vậy, dự báo giá dầu thế giới bình quân tháng 11/2021 có thể sẽ tăng từ 3-7% so với tháng 10/2021.

3. Dự báo giá lợn hơi tháng 11/2021 sẽ tăng nhẹ so với tháng 10/2021, dao động ở mức 45.000-50.000 VND/kg.

Trong tháng 10/2021, giá lợn hơi cả nước có diễn biến giảm ở cả miền Nam và miền Bắc. Cụ thể.

Bảng 4: Giá lợn hơi ở Việt Nam tháng 10/2021 (VND/kg)

Khu vực

Tháng 10/2021

So với tháng 9/2021

So với tháng 10/2020

Miền Bắc

38.150-42.700

-9.275

-28.575

Miền Nam

40.800-44.000

-8.900

-33.100

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu vinanet.vn và nhachannuoi.vn

+ Tại miền Bắc: giá lợn hơi trung bình khoảng 38.150-42.700 VND/kg, giảm 8.100-10.450 VND/kg so với tháng 9/2021.

+ Tại miền Nam: giá lợn hơi trung bình khoảng 40.800- 44.000 VND/kg, giảm 8.800-9.000 VND/kg so với tháng 9/2021.


Nguyên nhân: Nguyên nhân giá lợn hơi giảm sâu trong tháng 10/2021 do lượng lợn thương phẩm đưa ra thị trường rất lớn sau một thời gian dài bị dồn ứ trong trang trại suốt đợt giãn cách xã hội kéo dài, trong khi thị trường vẫn trầm lắng, sức mua giảm. Bên cạnh đó, lượng thịt lợn nhập khẩu quá nhiều khi tiêu thụ chậm khiến giá lợn hơi càng giảm mạnh hơn…

Dự báo: Cùng với việc nhiều tỉnh / thành của Việt Nam đang bước vào trạng thái bình thường mới, kinh tế có dấu hiệu hồi phục, giá thức ăn chăn nuôi đang đứng ở mức cao... Vì vậy, trong tháng 11/2021, giá thịt lợn hơi sẽ tăng trở lại khi nhu cầu thị trường phục hồi, có thể dao động từ 45.000-50.000 đồng/kg.

4. Dự báo tháng 11/2021 glúa gạo xuất khẩu của Việt Nam sẽ giảm từ 0-3% so với tháng 10/2021.

4.1. Giá xuất khẩu:

Tháng 10/2021, giá gạo của một số nước xuất khẩu lớn có diễn biến tăng. Cụ thể, giá gạo của một số nước được phản ánh như trong bảng 5 và đồ thị 5.

Bảng 5: Giá bình quân xuất khẩu gạo 5% tấm của Thái Lan, Ấn Độ và Việt Nam          tháng 10/2021

 

Gạo 5% tấm Thái Lan (USD/tấn)

Gạo 5% tấm

Ấn Độ (USD/tấn)

Gạo 5% tấm Việt Nam (USD/tấn)

Giábìnhquântháng 10/2020

492

388

483

Giábìnhquântháng 9/2021

388,9

362

406,9

Giábìnhquântháng 10/2021

393,3

362,4

430,5

Mức giá T10/2021 so với T9/2021

Sốtuyệtđối

4,4

0,4

24,4

%

1,13

0,11

6

Mức giá T10/2021 so với 10/2020

Sốtuyệtđối

- 66,7

- 13,1

- 55,5

%

- 14,5

- 3,49

- 11,42

Nguồn: Tính toán từ số liệu của FAO và Reuters

Nguyên nhân:

+ Tại Ấn Độ, giá gạo xuất khẩu tăng do nhu cầu nhập khẩu gạo từ khách hàng tăng trong bối cảnh nguồn cung giảm.

+ Tại Thái Lan, giá gạo xuất khẩu giảm chủ yếu do đồng Baht tăng giá nhẹ.

+ Tại Việt Nam, giá gạo xuất khẩu tăng do nhu cầu tăng:nhu cầu trong nước đang tăng lên trong bối cảnh chính phủ thu mua gạo từ nông dân để tích trữ vào kho dự trữ quốc gia, dẫn đến mức giá gạo trong nước tăng; hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam cũng đang được đẩy nhanh sau khi hầu hết các hạn chế về di chuyển liên quan đến đại dịch Covid-19 đã được dỡ bỏ.…

4.2. Giá lúa gạo tại Việt Nam:

Trên thị trường nội địa tháng 10/2021, tại khu vực ĐBSCL, một số loại lúa, gạo có diễn biến giảm giá. Theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương, tại An Giang, lúa OM6976 ở mức 5.050-5.175 VND/kg (tăng 50-55 VND/kg); lúa IR50404 ở mức 5.875 VND/kg (tăng 405 VND/kg); gạo thường ở mức 10.875-11.625 VND/kg (tăng 125-275 VND/kg); gạo thơm đặc sản Jasmine ở mức 14.750-15.750 VND/kg (tăng 1.350 VND/kg); gạo hạt dài ở mức 17.000-18.000 VND/kg, không thay đổi so với tháng 9/2021.

Bảng 6: Giá một số loại lúa gạo tại An Giang tháng 10/2021 (VND/kg)

Loại lúa gạo

Giá T10/2021

So với T9/2021

So với T10/2020

Lúa OM6976

5.050-5.175

52,5

- 1.000

Lúa IR 50404 (lúa khô)

5.875

450

-1.025

Gạo thường

10.875-11.625

200

375

Gạo hạt dài

17.000-18.000

0

- 1.000

Gạo thơm jasmine

14.750-15.750

1.350

150

Nguồn: Tổng hợp số liệu của Bộ NN&PTNN và thitruongnongsan.gov.vn

Dự báo: Tháng 11/2021, thị trường gạo châu Á sẽ sôi động hơn khi nhu cầu nhập khẩu gạo dần được cải thiện, tuy nhiên giá gạo xuất khẩu có thể giảm nhẹ trong bối cảnh nguồn cung gạo tăng do bước vào vụ thu hoạch mới…

Vì vậy, dự báo giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trong tháng 11/2021 có thể sẽ giảm từ 0-3% so với tháng10/2021…

5. Dự báo tháng 11/2021 so tháng10/2021,giá cà phê thế giới có thể tiếp tục tăng từ 1-4%, giá cà phê nội địa Việt Nam sẽ biến động theo xu hướng này.

5.1. Thị trường thế giới

Tháng 10/2021, giá cà phê Robusta và Arabica có diễn biến tăng:

- Tại sàn giao dịch London, giá cà phê Robusta kỳ hạn tháng 11/2021 bình quân tháng 10/2021 ở mức 2.144 USD/tấn (tăng 1,9% so tháng 9/2021);

- Tại sàn giao dịch ICE New York, giá cà phê Arabica kỳ hạn tháng 12/2021 bình quân trong tháng 10/2021 ở mức 4.449USD/tấn (tăng 4,83% so tháng 9/2021). 

5.2. Thị trường Việt Nam

Tháng 10/2021, tại thị trường Việt Nam, giá cà phê có diễn biến tăng. Tính chung cả tháng 10/2021, giá cà phê Robusta ở khoảng 39.825-40.725 VND/kg (tăng 385 VND/kg so với tháng 9/2021).

Giá xuất khẩu cà phê bình quân trong nửa đầu tháng 10/2021 ước đạt mức 1.894 USD/tấn, giảm 7,07% so với tháng 9/2021 và tăng 9,54% so với cùng kỳ năm 2020.

Nguyên nhân:Giá cà phê trên thị trường thế giới tăng trong tháng 10/2021 so với tháng trước do ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19, nguồn cung từ khu vực Đông Nam Á bị chậm lại, cước vận chuyển tăng cao cùng với việc Brazil bị ảnh hưởng nặng nề bởi khô hạn từ đầu năm và các đợt sương giá hồi tháng 7/2021 gây ra khiến sản lượng cà phê sụt giảm đã đẩy giá cà phê tăng cao.

Giá cà phê trong nước tăng theo xu hướng tăng chung của giá cà phê trên thị trường thế giới và do ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp khiến giá cước vận chuyển tăng và thiếu nhân công thu hái khi vùng cà phê Tây nguyên đang bước vào vụ thu hoạch mới...

Dự báo: Tháng 11/2021, dự báo giá cà phê toàn cầu có thể sẽ tiếp tục tăng nhẹ do nguồn cung sụt giảm ở các nước sản xuất lớn như Brazil, xuất khẩu cà phê từ Việt Nam chậm lại... Thời tiết khắc nghiệt tại vùng cà phê Brazil và một số khu vực khác khiến nguồn cung ứng cà phê thế giới sụt giảm. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, chuỗi cung ứng cà phê bị ảnh hưởng nghiêm trọng, giá cước vận chuyển quá cao góp phần đẩy giá cà phê đi lên. Vì vậy, dự báo giá cà phê xuất khẩu trong tháng 11/2021 có thể sẽ tiếp tục tăng từ 1-4% so với tháng10/2021.

6. Dự báo giá cao su tháng 11/2021 có thể sẽ tăng từ2-5% so với tháng 10/2021.

6.1. Thị trường thế giới

Tháng 10/2021, giá cao su trên thị trường thế giới có xu hướng tăng. Tính chung cả tháng 10/2021, giá cao su TSR20 bình quân trên sàn giao dịch SICOM (Singapore) đạt1,73 USD/kg, tăng6,53% so tháng 9/2021; giá cao su RSS3bình quân trên sàn giao dịch SICOM (Singapore) đạt1,87 USD/kg, tăng4,58% so tháng 9/2021.

6.2. Thị trường Việt Nam

Ở Việt Nam tháng 10/2021, giá mủ cao su nguyên liệu không có nhiều biến động so với cuối tháng trước. Tính chung cả tháng 10/2021, Công ty TNHH MTV Tổng Công ty Cao su Đồng Nai đã thu mua mủ cao su (loại mủ chén, khô) với giá trung bình là 12.700 VND/kg, giảm 270 VND/kg tương đương 2,23% so với tháng 9/2021.

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, giá cao su xuất khẩu của Việt Nam trong nửa đầu tháng 10/2021 trung bình ước đạt 1,667 USD/kg (tăng 1,28% so với tháng 9/2021 và tăng 30,03% so với cùng kỳ năm 2020).

Nguyên nhân: Giá cao su trên thị trường thế giới tháng 10/2021 tăng so với tháng 9/2021 do kỳ vọng các biện pháp kích thích bởi Chính phủ mới sẽ thúc đẩy nền kinh tế của Nhật Bản phục hồi mạnh, đẩy nhu cầu cao su thiên nhiên tăng. Bên cạnh đó, giá dầu thô tăng cao cũng là một nguyên nhân góp phần đẩy tăng giá cao su.

Giá cao su nguyên liệu trong nước tháng 10/2021 không biến động nhiều so với tháng trước khi nhiều nhà máy sơ chế, chế biến cao su dần hoạt động ổn định trở lại và nhu cầu của thị trường xuất khẩu vẫn ổn định…

Dự báo: Tháng 11/2021, giá cao su dự báo sẽ có chiều hướng đi lên do giá dầu tăng cao và nguồn cung cao su khan hiếm khi sản lượng tại các quốc gia sản xuất cao su tự nhiên giảm bởi ảnh hưởng của dịch Covid-19.Tuy nhiên, đà tăng sẽ bị hạn chế bởi nhu cầu nhập khẩu cao su của Trung Quốc có xu hướng chậm lạikhi nước này đang đối mặt với cuộc khủng hoảng năng lượng khá trầm trọng … Vì vậy, dự báo giá cao su tự nhiên trong tháng 11/2021 có thể sẽ tăng từ 2-5% so với tháng10/2021.

7. Lãi suất trong tháng 11/2021 tiếp tục giảm nhằm hỗ trợ phục hồi kinh tế trước diễn biến nâng cấp phòng dịch Covid-19 trở lại tại nhiều địa phương.

7.1. Thế giới

Trước tín hiệu lung lay về triển vọng phục hồi kinh tế thế giới do nguy cơ bùng phát mạnh mẽ dịch Covid-19 trong thời gian tới, Ngân hàng Trung ương các nước nhìn chung vẫn thận trọng trong quyết định chính sách tiền tệ bởi cho rằng đây chỉ là hiện tượng tạm thời của nền kinh tế. Mức lãi suất cơ bản thấp vẫn được duy trì trong tháng 07/2021 như các tháng trước nhằm tránh gây ra xáo trộn trong giới đầu tư ảnh hưởng tiêu cực đến việc phục hồi nền kinh tế. Và mức lãi suất thấp như hiện nay nhiều khả năng sẽ được duy trì ổn định trong năm 2021.

Trong tháng 10/2021, mặc dù nâng triển vọng tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại Mỹ song Fed chưa có động thái thay đổi lãi suất quỹ liên bang ở mức 0 - 0,25% kể từ tháng 3/2020 nhằm tăng cường tốc độ phục hồi việc làm vốn còn  đang chậm.

Tương tự như Fed, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) chưa có động thái thay đổi mức lãi suất cơ bản, lãi suất cho vay trung hạn và lãi suất tiền gửi lần lượt đạt 0%; 0,25% và -0,5% như hiện nay. Quyết định này đưa ra trong bối cảnh đại dịch Covid-19 với biến thể Delta tiếp tục "phủ bóng" lên triển vọng nền kinh tế. khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone).

Trong khi đó, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PboC) cam kết giữ ổn định lãi suất cho vay cơ bản (LPR) tháng thứ 16 liên tiếp trong bối cảnh nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đang phục hồi mạnh mẽ và thích nghi tốt trước tác động dịch Covid-19. Theo đó, lãi suất cho vay cơ bản kỳ hạn một năm (LPR) được giữ nguyên ở mức 3,85%, trong khi LPR kỳ hạn 5 năm vẫn ở mức 4,65%, lãi suất cho các khoản vay MLF kỳ hạn 1 năm đối với các tổ chức tài chính vẫn ở mức 2,95%.

7.2. Việt Nam

Tiến trình nới lỏng giãn cách xã hội tại các trung tâm kinh tế lớn của cả nước như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh cùng với tình trạng thanh khoản trong hệ thống ngân hàng hiện nay và xu thế chính sách tiền tệ của nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn duy trì ổn định lãi suất cơ bản trong tháng 10//2021 như tháng 12/2020 nhằm tránh gây nhiều xáo trộn đến tiến trình phục hồi sản xuất, kinh tế. Cụ thể:

-         Lãi suất tái cấp vốn: giữ ở mức 4,00%/năm;

-         Lãi suất tái chiết khấu: giữ ở mức 2,50%/năm;

-         Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng:giữ ở mức 5,00%/năm;

-         Lãi suất chào mua giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở:giữ ở mức 2,50%/năm.

Trong khi đó, một số loại lãi suất tiền gửi vẫn duy trì ổn định như tháng 9/2020:

-         Lãi suất đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng VND giữ ở mức 0,5%/năm;

-         Lãi suất đối với tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc bằng VND giữ ở mức 0%/năm;

-         Lãi suất tiền gửi bằng VND của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Quỹ tín dụng nhân dân và Tổ chức tài chính vi mô tại NHNN 0,8%/năm;

-         Lãi suất tiền gửi của Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại NHNN giảm còn 0,8%/năm.

Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng tháng 10/2021 đảo chiều với xu thế giảm trong thời điểm cuối tháng ở phần lớn các kỳ hạn giao dịch ngắn hạn qua đêm, 1 tuần và giảm nhẹ với kỳ hạn trung hạn 1 tháng. Theo đó, lãi suất giao dịch các kỳ hạn qua đêm, 1 tuần lần lượt giảm lần lượt 0,04%; 0,01% và 0,1%, xuống còn 0,61%; 0,63% và 0,68%/năm.Đây là diễn biến gây chú ý trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước tiếp tục không thực hiện hoạt động bơm/hút ròng mới nào trong tuần qua trên các kênh tín phiếu và thị trường mở.

Như vậy, lãi suất liên ngân hàng đang có xu hướng thiết lập một mặt bằng mới cho năm 2021. Mặc dù cao hơn so với mức nền thấp của năm 2020, tuy nhiên mặt bằng lãi suất liên ngân hàng ở thời điểm hiện tại vẫn thấp hơn so với mặt bằng trước dịch Covid-19 (trên 3% đối với cả 3 loại kỳ hạn qua đêm, 1 tuần và 1 tháng trong năm 2019). Trong nửa cuối năm 2021, với lạm phát được dự báo trong vùng kiểm soát và các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như cuộc sống của người dân vẫn đang chịu ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19, lãi suất được kỳ vọng sẽ tiếp tục duy trì ở mặt bằng thấp như hiện tại để hỗ trợ cho nền kinh tế.

Diễn biến trên tiếp tục cho thấy thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn đang ở trạng thái dồi dào. Đây cũng là một yếu tố để Ngân hàng Nhà nước nhiều khả năng sẽ không điều chỉnh các lãi suất điều hành trong thời gian còn lại của năm nay (trái với 3 lần điều chỉnh giảm trong năm 2020). Nguyên nhân được chỉ ra là do dư địa để giảm của lãi suất điều hành không còn lớn, trong khi dịch bệnh Covid-19 vẫn đang có những diễn biến phức tạp cũng như sự hồi phục kinh tế vẫn đang chưa chắc chắn.

Từ nửa cuối tháng 10/2021, lãi suất huy động trung bình tiếp tục có diễn biến giảm nhẹ trong tháng 10/2021 đối với cả hai kỳ hạn 6 tháng và 12 tháng. Theo đó, trung bình lãi suất huy động 6 tháng và 12 tháng giảm lần lượt 0,01 và 0,06 điểm phần trăm, lần lượt xuống 4,70% và 5,50% vào cuối tháng 10/2021. Nhóm Ngân hàng TMCP có quy mô lớn (vốn trên 5.000 tỷ đồng) tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất đối với cả 2 loại kỳ hạn trên trong tháng 10, lần lượt 0,04 và 0,14 điểm phần trăm, xuống còn 4,41% và 5,25%/năm.

Trong khi đó, đối với ngân hàng TMCP quy mô nhỏ (vốn dưới 5.000 tỷ đồng), lãi suất huy động của kỳ hạn 6 tháng được điều chỉnh tăng 0,02 điểm phần trăm, lên mức 5,39%/năm; trong khi lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng tiếp tục giữ nguyên ở mức 6%/năm. Ngược lại, nhóm Ngân hàng có gốc quốc doanh không thay đổi lãi suất tiết kiệm đối với cả 2 loại kỳ hạn 6 và 12 tháng trong tháng thứ III liên tiếp, duy trì ở mức 3,775% và 4,95%/năm.

Với cả 2 loại kỳ hạn 6 tháng và 12 tháng, lãi suất huy động thấp nhất đã giảm từ mức 3,7% và 4,5%/năm vào cuối tháng 9/2021, xuống còn 3,6% và 4,3% vào cuối tháng 10/2021. Trong khi đó, mức lãi suất huy động cao nhất vẫn đang được áp dụng ở mức 6,1%/năm đối với kỳ hạn 6 tháng và 6,8%/năm đối với kỳ hạn 12 tháng. Như vậy, lãi suất trung bình 6 tháng và 12 tháng tới cuối tháng 10/2021 cùng tiếp tục giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm so với cùng kỳ.

Tính chung trên toàn hệ thống, tới cuối tháng 10/2021, lãi suất huy động gần như giảm so với tháng 09/2021 với kỳ hạn trung hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng, song lại ổn định với kỳ hạn ngắn hạn dưới 6 tháng và dài hạn 12, 13 tháng. Cụ thể như bảng 7 dưới đây:

Bảng 7: Lãi suất tiền gửi của hệ thống ngân hàng thương mại tháng 10/2021

Kỳ hạn

Tháng 09/2021
(%/năm)

Tháng 10/2021
(%/năm)

Mức giảm (%/năm)

Kỳ hạn dưới 6 tháng

2,8 – 3,4

2,8 – 3,4

0,0 – 0,0

Kỳ hạn 6 đến dưới 12 tháng

3,8 – 4,8

3,6 – 4,3

0,2 – 0,5

Kỳ hạn 12, 13 tháng

4,5 – 6,8

4,5 – 6,8

0,0 – 0,0

Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Ngân hàng Nhà nước

Tiếp tục duy trì ổn định mặt bằng lãi suất mới điều chỉnh từ ngày 15/7, lãi suất cho vayngắn hạn bình quân bằng VND đối với một số ngành lĩnh vực ở mức 4,4%/năm.

Lãi suất trúng thầu của trái phiếu Kho bạc Nhà nướctháng 10/2021 tăng tại các kỳ hạn 10,15 và 20 năm với mức tăng từ 0,01-0,03%/năm, giữ nguyên tại kỳ hạn 30 năm

* Dự b&aacu

Trở lại
CÁC BÀI VIẾT KHÁC
40 triệu USD hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ (25/12/2010)
Các doanh nghiệp lớn ám ảnh bởi vụ Vinashin (25/12/2010)
Giá vàng và USD quay đầu giảm mạnh (22/02/2011)
Giá mặt bằng bán lẻ Hà Nội - TP HCM cùng hạ nhiệt (19/01/2011)
Vàng ‘rơi’ xuống đáy của 2 tháng (21/01/2011)
Thống đốc Ngân hàng giải trình về lãi suất, lạm phát (25/12/2010)
Vàng vượt 36,3 triệu đồng (15/02/2011)
Báo cáo tài chính nhà nước năm 2018 đang dần hoàn thiện (09/01/2020)
Mặt hàng nào giảm giá mạnh sau kì nghỉ lễ? (06/05/2011)
Nhà đất Hà Nội, Sài Gòn rục rịch giảm giá (23/05/2011)
Sữa nội vẫn chưa chịu giảm theo giá thế giới (31/05/2011)
Giảm mục tiêu tăng trưởng, nới chỉ tiêu lạm phát (06/06/2011)
Thị trường bán lẻ Việt Nam liên tiếp rớt hạng (08/06/2011)
Xe ngoại tăng mạnh trước thời điểm siết thủ tục nhập khẩu (27/06/2011)
Thu hút FDI giảm một nửa (28/06/2011)
Xem tiếp
 
 
         Tin tức & sự kiện mới
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2020 và dự báo 2021
Thông báo v/v nhận Hồ sơ đăng ký xét tuyển thẳng học sinh giỏi ở bậc THPT vào đại học chính quy Học viện Tài chính năm 2020
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2019 và dự báo cả 2020.
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam 6 tháng đầu năm và dự báo cả năm 2019.
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2018 và dự báo 2019
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 11 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 10 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 9 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 8 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 7 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 6 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 5 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 4 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 3 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 2 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 1 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 12 năm 2020
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 11 năm 2020
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 10 năm 2020
Báo cáo phân tích dự báo tháng 9 năm 2020
        Email
        Hình ảnh hoạt động
Khóa học Quản trị Tài chính (từ 14-16/7/2011)
Viện kỷ niệm 86 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam
Bế giảng khóa học Quản trị Tài chính (14/5/2011)
Khóa Quản trị Công ty ngày 7-9/4/2011
Bế giảng khóa học Quản trị Công ty (9/4/2011)
Xem toàn bộ

Viện Kinh tế - Tài chính

162 Nguyễn Văn Cừ - Long Biên - Hà Nội

ĐT: 024 39334139, Fax: 024 38252475

Email: vienkttc@hvtc.edu.vn