Chương trình đào tạo
Các khóa học ngắn hạn
Các khóa học dài hạn
Lịch tuyển sinh
Đăng ký trực tuyến
        Tin nóng
 
         Tìm kiếm thông tin
         Hỗ trợ trực tuyến
Phòng Khoa học và Đào tạo
Bản tin Thị trường
Phòng NC Tài chính
Phòng NC Thị trường Giá cả
Phòng Hành chính Tài vụ
         Liên kết website
         Đối tác khách hàng
         Thông kê truy cập
Online: 2
Visited: 1011701
 
  

 

 

Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 5 năm 2021

1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2021 giảm 0,04% so với tháng 3/2021 và tăng2,7% so với cùng kỳ năm trước.

1.1. Diễn biến

Theo số liệu vừa được công bố từ Tổng cục Thống kê, CPI tháng 4/2021giảm0,04% so với tháng trước. Mức giảm này chủ yếulà do giá thực phẩm giảm 0,25% khi nguồn cung dồi dào trở lại; giá điện, nước sinh hoạt giảm theo nhu cầu tiêu dùng làm cho giá nhà ở và vật liệu xây dựnggiảm 0,43%.Ngoài ra, các nhóm hàng hóa khác cũng có giá cả giảm như bưu chính viễn thông giảm 0,2%;văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,11%.

Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm 2020, CPI tháng 4/2021vẫn tăng2,7%.Nguyên nhân chính là do giá xăng dầu tăng làm cho giá giao thông tăng 17,67%, giá dịch vụ giáo dục và giá lương thực tăng 4,29% so với cùng kỳ năm ngoái. Do do tác động của dịch Covid-19,nền kinh tế tăng trưởng thấp trong năm 2020, khiến cho sức mua của nền kinh tế vẫn còn yếu. Một số nhóm hàng như thực phẩm, bưu chính viễn thông, văn hóa, giải trí và du lịch giảm khiếncho lạm phátso vớicùng kỳ của tháng4/2021được duy trìở mứctương đối thấp.

Bảng 1. Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2021

 

CPI tháng 4/2021 so với

Tháng 12
năm 2020

Tháng 4
năm 2020

Tháng3 năm 2021

Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng

+1,27%

+2,7%

-0,04%

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Lạm phát cơ bản (CPI loại trừ lương thực, thực phẩm, năng lượng và mặt hàng do nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục) tháng 4/2021là0,95% nếu so với cùng kỳ năm 2020 và 0,07% so với tháng trước. CPI tháng 4/2021so với cùng kỳ năm 2020 có mức tăng cao hơn lạm phát cơ bản nhưng không nhiều.

 

1.2. Dự báo

Dự báo CPI năm 2021 tăng trung bình 2,0% (+-0,5%).

Trong năm 2021, khi dịch bệnh được kiểm soát tốt hơn nhờ có vắc-xin, đồng thời kinh tế thế giới và trong nước phục hồi, lạm phát so với cùng kỳ năm trước sẽ có xu hướng tăng trở lại. Điều nàyđã được thế hiện trong tháng4/2021. Tuy nhiên, với việc lạm phát so với cùng kỳ năm trước đang ở mức thấp là 2,7%, lạm phát trung bình trong năm 2021 sẽ không thể cao, nhất là khi kinh tế trong năm 2021 sẽ chưa thể phục hồi hoàn toàn.

Vào thờiđiểm hiện tại, chúng tôi vẫn giữ nguyên dự báođượcđưa ra trong báo cáo trước, đó là là CPI trung bình năm 2021 chỉ tăng trên dưới 2% so với năm 2020. Trong trường hợp có biến động mạnh về giá xăng dầu hay giá thực phẩm như năm 2019, lạm phát trung bình trong năm 2021 nhiều khả năng sẽ vẫn ở mức dưới 3%.

2. Dự báog bình quân của dầu thô và xăng dầu thành phẩm thế giới tháng 5/2021sẽ tăng từ1-4% so với tháng 4/2021.

2.1. Thị trường thế giới:

Trong cuộc họp ngày 01/4/2021 nhóm OPEC+ đã nhất trí sẽ nới lỏng mức cắt giảm sản lượng khoảng 350.000 thùng/ngày trong tháng 5/2021, thêm 350.000 thùng/ngày trong tháng 6/2021 và lên 400.000 thùng/ngày vào tháng 7/2021. Như vậy, từ tháng 5/2021, OPEC+ sẽ thực hiện cắt giảm hơn 6,5 triệu thùng dầu/ngày.

Ngoài ra, riêng Ả rập Xê Út sẽ dần nới lỏng việc tự nguyện giảm 1 triệu thùng/ngày trong cùng giai đoạn, bắt đầu với việc tăng thêm 250.000 thùng/ngày trong tháng 5 và 6/2021.

Trong báo cáo công bố ngày 14/4/2021, IEA đã  nâng dự báo về nhu cầu dầu mỏ thế giới năm 2021 thêm 230.000 thùng/ngày so với dự báo tháng 3/2021, theo đó tổng nhu cầu dầu năm 2021 sẽ tăng 5,7 triệu thùng/ngày so với năm 2020 (lên 96,7 triệu thùng/ngày).

Trong tuần kết thúc 16/4/2021 theo số liệu của IEA, dữ trữ dầu thô của Mỹ tăng 594 nghìn thùng, trái ngược với dự báo giảm 3 triệu thùng được đưa ra trước đó.

Tại Ấn Độ, nhu cầu dầu thô được dự báo sẽ giảm mạnh khi dịch Covid-19 tái bùng phát….

Như vậy, diễn biến này làm cho:

- Giá dầu thô bình quân của 3 thị trường Brent, Dubai và West Texas  Intermediate tháng 4/2021 ở mức 63,00USD/thùng (giảm 1,30% so với tháng 3/2021);

- Giá xăng RON 95 bình quân tại thị trường Singapore tháng 4/2021 ở mức 74,15USD/thùng (tăng 0,91% so với tháng 3/2021).

2.2. Thị trường Việt Nam:

Tháng 4/2021, do giá xăng dầu thế giới biến động nên Liên Bộ Công Thương – Tài Chính đã điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu trong nước 2 lần vào ngày 12/4 và 27/4/2021. Cụ thể, giá bán lẻ một số mặt hàng xăng dầu được điều chỉnh như trong bảng 1.

Bảng 2: Giá xăng dầu bán lẻ tại vùng 1 tháng 4/2021

 

Xăng RON 95-III (VND/lít)

Xăng E5 RON 92-II (VND/lít)

Dầu hỏa (VND/lít)

Dầu Diesel 0,05S-II (VND/lít)

Dầu Mazut 3,5S (VND/kg)

Mức giá từ ngày 27/3/2021

19.040

17.850

13.000

14.240

13.750

Mức giá từ ngày 12/4/2021

18.970

17.800

12.820

14.140

13.680

Mức giá từ ngày 27/4/2021

19.160

17.980

13.250

14.320

14.020

Mức giá ngày 12/4 so với 27/3/2021

Số tuyệt đối

-70

-50

-180

-100

-70

%

-0,37

-0,28

-1,38

-0,70

-0,51

Mức giá ngày 27/4 so với 12/4/2021

Số tuyệt đối

190

180

430

180

340

%

1,00

1,01

3,35

1,27

2,49

Mức giá ngày 27/4 so với 27/3/2021

Số tuyệt đối

120

130

250

80

270

%

0,63

0,73

1,92

0,56

1,96

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Petrolimex

Như vậy, giá xăng dầu vùng 1 được điều chỉnh vào ngày 27/4/2021 như sau: giá xăng RON 95-III là 19.160VND/lít (tăng 120VND/lít, tương đương 0,63% so với cuối tháng 3/2021); giá xăng E5 RON 92-II là 17.980VND/lít (tăng 130VND/lít, tương đương 0,73%); dầu hỏa là 13.250VND/lít (tăng 250VND/lít, tương đương 1,92%); dầu Diesel 0,05S-II là 14.320VND/lít (tăng 80VND/lít, tương đương 0,56%); dầu Mazut 3,5S là 14.020VND/kg (tăng 270VND/lít, tương đương 1,96%)…

Cùng với việc điều chỉnh giá xăng dầu, Liên Bộ Tài chính - Công Thương đã thực hiện mức trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu trong tháng 4/2021 như được nêu cụ thể ở bảng 2 và 3.

Bảng 3: Mức trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu tháng 4/2021

 

Xăng các loại (trừ xăng sinh học, VND/lít)

Xăng E5 (VND/lít)

Dầu hỏa (VND/lít)

Diesel (VND/lít)

Mazut các loại (VND/kg)

Mức trích từ ngày 27/3/2021

0

0

0

0

0

Mức trích từ ngày 12/4/2021

0

0

0

0

0

Mức trích từ ngày 27/4/2021

0

0

0

0

0

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Liên Bộ Tài chính - Công Thương

Bảng 4: Mức chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu tháng 4/2021

 

Xăng các loại (trừ xăng sinh học, VND/lít)

Xăng E5 (VND/lít)

Dầu hỏa (VND/lít)

Diesel (VND/lít)

Mazut các loại (VND/kg)

Mức chi từ ngày 27/3/2021

1.050

1.900

500

500

600

Mức chi từ ngày 12/4/2021

950

1.800

300

250

500

Mức chi từ ngày 27/4/2021

1.050

1.900

400

400

500

Mức chi ngày 12/4 so với 27/3/2021

Số tuyệt đối

-100

-100

-200

-250

-100

%

-9,52

-5,26

-40,00

-50,00

-16,67

Mức chi ngày 27/4 so với 12/4/2021

Số tuyệt đối

100

100

100

150

0

%

10,53

5,56

33,33

60,00

0,00

Mức chi ngày 27/4 so với 27/3/2021

Số tuyệt đối

0

0

-100

-100

-100

%

0,00

0,00

-20,00

-20,00

-16,67

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Liên Bộ Tài chính - Công Thương

Như vậy so với cuối tháng 3/2021, tháng 4/2021 liên Bộ tiếp tục thực hiện mức trích lập Quỹ bình ổn giá đối với tất cả các loại xăng dầulà 0; giảm dần mức chi sử dụng quỹ đối với tất cả các loại xăng dầu từ ngày 12/4/2021; nhưng lại tăng mức chi sử dụng quỹ đối với tất cả các loại xăng dầu từ ngày 27/4/2021. Việc điều hành này đã giúp ổn định giá bán lẻ xăng dầu trong nước...

Dự báo: Giá dầu tiếp tục được hỗ trợ bởi dữ liệu kinh tế tích cực từ Mỹ, Trung Quốc và EU… Tuy nhiên, một làn sóng dịch đang bùng phát mạnh tại Ấn Độ và các nước Nam Á… sẽ tác động tiêu cực đến giá dầu. Do vậy, dự báo giá dầu thế giới tháng 05/2021 có thể sẽ tăng từ 1 – 4% so với tháng 04/2021.

3. Dự báo giá lợn hơi tháng 5/2020 sẽ giảm nhẹ so với tháng 4/2021, dao động ở mức 70.000 – 75.000 VND/kg.

Trong tháng 4/2021, giá lợn hơi cả nước có diễn biến giảm ở cả miền Nam và miền Bắc. Cụ thể.

Bảng 5: Giá lợn hơi ở Việt Nam tháng 4/2021(VND/kg)

Khu vực

T4/2021

So với T3/2021

So với T4/2020

Miền Bắc

72.500 – 74.500

-2.000

- 13.000

Miền Nam

72.500 – 75.500

-500

-7.500

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu vinanet.vn và nhachannuoi.vn

+ Tại miền Bắc:giá lợn hơi trung bình khoảng 72.500 – 74.500VND/kg, giảm khoảng 2.000 VND/kg so với tháng 3/2021.

+ Tại miền Nam:giá lợn hơi trung bình dao động 72.500 – 75.500VND/kg, giảm 500 VND/kg so với tháng 3/2021.

Nguyên nhân:

Giá lợn hơi tháng 4/2021 giảm so với tháng 3/2021 làbởidịch tả lợn Châu Phi ở Việt Nam cơ bản đã được khống chế, bên cạnh lượng thịt nhập khẩu lớn trong những tháng đầu năm thì nguồn cung thịt lợn trong nước dần được đảm bảo: đến hết quý I/2021, tổng đàn lợn cả nước tăng khoảng 11,6% so với cùng kỳ năm 2020; sản lượng lợn hơi xuất chuồng đạt hơn 1 triệu tấn, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2020…

Dự báo: Do dịch tả lợn Châu phi ở Việt Nam cơ bản đã được khống chế và nguồn cung thịt lợn trong nước được đảm bảo nên trong tháng 5/2021, giá thịt lợn có thể tiếp tục giảm nhẹ so với tháng 4/2021, dao động trong khoảng 70.000 – 75.000 VND/kg.

4. Dự báo tháng 5/2021 glúa gạoViệt Nam xuất khẩu sẽ tăng từ 0-3% so với tháng 4/2021.

4.1. Giá xuất khẩu:

Trong tháng 4/2021, giá gạo của một số nước xuất khẩu lớn có diễn biến giảm. Cụ thể, giá gạo của một số nước được phản ánh như trong bảng 5 và đồ thị 5.

Bảng 6: Giá bình quân xuất khẩu gạo 5% tấm của Thái Lan, Ấn Độ và Việt Nam          tháng 4/2021

 

Gạo 5% tấm Thái Lan (USD/tấn)

Gạo 5% tấm

Ấn Độ (USD/tấn)

Gạo 5% tấm Việt Nam (USD/tấn)

Giá bình quân tháng 4/2020

547

372

445

Giá bình quân tháng 3/2021

522,5

398,5

510,5

Giá bình quân tháng 4/2021

474

391,5

496

Mức giá T4/2021 so với T3/2021

Số tuyệt đối

- 47,5

- 7

- 14,5

%

- 9,09

- 1,7

- 2,84

Mức giá T4/2021 so với T4/2020

Số tuyệt đối

- 73

+ 19,5

+ 51

%

- 13,35

+ 5,24

+ 11,46

Nguồn: Tính toán từ số liệu của FAO và Reuters

Nguyên nhân:

+ Tại Thái Lan, giá gạo xuất khẩu của Thái Lan giảm chủ yếu do đồng Baht giảm gần 4% so với USD kể từ đầu tháng 3/2021 đến cuối tháng 4/2021. Bên cạnh đó, một phần giúp giá gạo xuất khẩu của Thái Lan giảm do giá gạo trong nước của Thái Lan cũng giảm vì các nhà xuất khẩu nước này từ nhiều tháng nay rất khó ký hợp đồng xuất khẩu bởi giá gạo cao trong một thời gian kéo dài.

+ Tại Ấn Độ, giá gạo xuất khẩu của Ấn Độ giảm do đồng rupee đã giảm xuống mức thấp nhất trong 9 tháng qua, giúp tăng biên độ lợi nhuận của các thương nhân bán hàng ra nước ngoài, cho phép các nhà xuất khẩu giảm giá gạo. Nhu cầu từ khách hàng Châu Phi đối với gạo Ấn Độ những ngày cuối tháng 4/2021 cũng giảm xuống.

+ Tại Việt Nam, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tháng 4/2021 giảm nhẹ so với tháng 3/2021 để tăng sức cạnh tranh với gạo Ấn Độ và Thái Lan. Bên cạnh đó, nguyên nhân giảm giá còn do nhu cầu chậm lại trong bối cảnh ĐBSCL đã thu hoạch xong lúa vụ Đông xuân và chất lượng lúa cuối vụ không cao …

4.2. Giá lúa gạo tại Việt Nam:

Trên thị trường nội địa tháng 4/2021, tại khu vực ĐBSCL, một số loại lúa, gạo có diễn biến giá giảm so với tháng 3/2021. Theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương, tại An Giang, lúa OM6976 ở mức 6.160 - 6.290 VND/kg (giảm 420 – 450 VND/kg); lúa IR50404 ở mức 7.000 VND/kg kg (giảm 500 VND/kg) gạo thơm đặc sản jasmine ở mức 14.000 – 15.000 VND/kg (giảm 800 – 1.000 VND/kg); gạo thường ở mức 10.600 – 11.600 VND/kg (giảm 100 VND/kg), gạo hạt dài ở mức 18.000 – 19.000 VND/kg, không thay đổi so với tháng 3/2021.

Bảng 7: Giá một số loại lúa gạo tại An Giang tháng 4/2021 (VND/kg)

Loại lúa gạo

Giá T4/2021

So với T3/2021

So với T4/2020

Lúa OM6976

6.160 - 6.290

- 435

- 30

Lúa IR 50404 (lúa khô)

7.000

- 500

+1.000

Gạo thường

10.600 – 11.600

- 100

- 150

Gạo hạt dài

18.000 – 19.000

-

+2.400

Gạo thơm Jasmine

14.000 – 15.000 

- 900

- 400

Nguồn: Tổng hợp số liệu của Bộ NN&PTNN và thitruongnongsan.gov.vn

Dự báo: Tháng 05/2021, thị trường gạo châu Á dự kiến sẽ tiếp tục sôi động khi nhu cầu duy trì ở mức cao, thậm chí có thể tăng lên khi nhiều khách hàng chờ đợi thời điểm các nước xuất khẩu thu hoạch lúa để mua vào. Nguồn cung khan hiếm dần do dịch Covid-19 ở Thái Lan, Campuchia và Ấn Độ có thể khiến cho giá gạo tăng.  Vì vậy, dự báo giá gạo xuất khẩu trong tháng 5/2021 có thể sẽ tăng từ 0-3% so với tháng4/2021…

5. Dự báo tháng 5/2021 so tháng4/2021,giá cà phê thế giới có thể tăng từ 0-3%, giá cà phê nội địa Việt Nam sẽ biến động theo xu hướng này.

5.1. Thị trường thế giới

Tháng 4/2021, giá cà phê Robusta và Arabica có diễn trái chiều, cụ thể:

- Tại sàn giao dịch London, giá cà phê Robusta kỳ hạn tháng 7/2021  bình quân tháng 4/2021 ở mức 1.381USD/tấn (giảm0,47% so tháng 3/2021);

- Tại sàn giao dịch ICE New York, giá cà phê Arabica và tháng 7/2021 bình quân tháng 4/2021 ở mức 2.897 USD/tấn (tăng 0,5% so tháng 3/2021). 

5.2. Thị trường Việt Nam

Tháng 4/2021 tại thị trường Việt Nam, giá cà phê có diễn biến tăng nhẹ. Tính chung cả tháng 4/2021, giá cà phê Robusta ở khoảng 32.060 –32.860 VND/kg (tăng 310 - 330 VND/kg so với tháng 3/2021).

Giá xuất khẩu cà phê bình quân trong nửa đầu tháng 4/2021 ước đạt mức 1.900,5 USD/tấn, tăng 0,74 % so với tháng 3/2021 và tăng 15,37 % so với cùng kỳ năm 2020.

Nguyên nhân:Giá cà phê Arabica trên thị trường thế giới tháng 4/2021 tăng nhẹ so với tháng trước do thời tiết khô ở hầu hết các khu vực trồng trọng điểm tại nước sản xuất hàng đầu (Brazil), ảnh hưởng đến sự phát triển cây cà phê trong giai đoạn phát triển cuối cùng trước khi bắt đầu vụ thu hoạch, đã hỗ trợ giá cà phê Arabica tăng. Giá cà phê Robusta  trên thị trường thế giới giảm nhẹ trong tháng 4/2021 so với tháng trước do nhu cầu trầm lắng...

Dự báo: Tháng 5/2021, dự báo giá cà phê toàn cầu có thể tiếp tục tăng nhẹ do được hỗ trợ bởi nguồn cung tại nước sản xuất hàng đầu (Brazil) có khả năng sụt giảm. Them vào đó, các dấu hiệu nhu cầu cà phê thế giới tăng trở lại và đồng real Brazil tăng giá… Vì vậy, dự báo giá cà phê xuất khẩu trong tháng 5/2021 có thể sẽ tăng từ 0-3% so với tháng4/2021.

6. Dự báo giá cao su tháng 5/2021 có thể sẽ tăng từ2-5% so với tháng 4/2021.

6.1. Thị trường thế giới

Tháng 4/2021, giá cao su trên thị trường thế giới có xu hướng giảm mạnh trong nửa đầu tháng, sau đó diễn biến giá có dấu hiệu phục hồi vào cuối tháng.  Tính chung cả tháng 4/2021, giá cao su TSR20 bình quân trên sàn giao dịch SICOM (Singapore) đạt1,64 USD/kg, giảm5,80% so tháng 3/2021; giá cao su RSS3bình quân trên sàn giao dịch SICOM (Singapore) đạt 2,15 USD/kg, giảm9,10% so tháng 3/2021.

6.2. Thị trường Việt Nam

Ở Việt Nam tháng 4/2021, giá mủ cao su nguyên liệu có xu hướng tăng nhẹ trong những ngày cuối tháng theo đà tăng trở lại của giá cao su trên thị trường thế giới. Công ty TNHH MTV Tổng Công ty Cao su Đồng Nai trong tháng 4/2021 đã thu mua mủ cao su (loại mủ chén, khô) với giá trung bình là 12.220VND/kg tăng 0,99% so với tháng 3/2021.

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, giá cao su xuất khẩu của Việt Nam trong nửa đầu tháng 4/2021 trung bình ước đạt 1,784 USD/kg (tăng 2,88% so với tháng 3/2021 và tăng 40,47% so với tháng 4/2020).

Nguyên nhân:Giá cao su trên thị trường thế giới trong tháng 4/2021 giảm mạnh so với tháng 3/2021 do số ca nhiễm Covid-19 tiếp tục tăng trên phạm vi toàn cầu khiến nhiều quốc gia đã phải đóng cửa một số khu vực sản xuất để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh. Tình trạng thiếu chip toàn cầu có thể làm giảm sản lượng ô tô và ảnh hưởng đến nhu cầu lốp xe, từ đó giảm nhu cầu đối với cao su… Bên cạnh đó, dịch Covid-19 đang hoành hành tại các quốc gia cung cấp cao su hàng đầu như Ấn Độ, Thái Lan… tạo nên tình trạng thiếu hụt lao động và sẽ làm giảm nguồn cung cao su ra thị trường.

Dự báo: Thời gian tới, giá cao su có thể tăng trở lại do kinh tế toàn cầu hồi phục mạnh sau số liệu kinh tế vững chắc từ Mỹ, Trung Quốc và triển vọng tăng trưởng kinh tế thế giới từ nhận định của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Năng suất cao su có thể giảm đáng kể trong giai đoạn 2021-2022 do nguồn cung cao su thấp hơn trong điều kiện thiếu hụt lao động vì đại dịch, bất ổn tại Ấn Độ, Thái Lan và bệnh nấm lá ở cây cao su tại Indonesia, Thái Lan, Sri Lanka… Vì vậy, dự báo giá cao su tự nhiên trong tháng 5/2021 có thể sẽ tăng từ 2-5% so với tháng4/2021…

7. Lãi suất trong tháng 05/2021 tiếp tục duy trì ổn định nhằm hỗ trợ nền kinh tế giữ đà phục hồi trong điều kiện diễn biến kinh tế vĩ mô quý I/2021 cùng với tiến trình sản xuất, thử nghiệm vaccine phòng Covid-19 ghi nhận nhiều tín hiệu lạc quan.

7.1. Thế giới

Mặc dù quá trình phục hồi, tăng sức kháng cự của nền kinh tế toàn cầu trước dịch Covid-19 ghi nhận nhiều triển vọng tích cực, song Ngân hàng Trung ương các nước nhìn chung vẫn đưa ra quyết định chính sách tiền tệ một cách thận trọng và linh hoạt, giữ nguyên các mức lãi suất cơ bản trong tháng 04/2021 như các tháng trước nhằm tránh gây ra xáo trộn trong giới đầu tư ảnh hưởng tiêu cực đến việc phục hồi nền kinh tế. Và mức lãi suất thấp như hiện nay nhiều khả năng sẽ được duy trì ổn định trong năm 2021.

Sau cuộc họp 28/4, mặc dù nâng triển vọng kinh tế Mỹ song Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) chưa có động thái điều chỉnh phạm vi mục tiêu cho lãi suất quỹ liên bang ở mức 0 - 0,25% kể từ tháng 3/2020 nhằm giữ ổn định tâm lý nhà đầu tư và duy trì đà phục hồi kinh tế.

Tương tự như Fed, trong ngày 22/4, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tuyên bố vẫn duy trì lãi suất cơ bản, lãi suất cho vay trung hạn và lãi suất tiền gửi lần lượt ở mức 0%; 0,25% và -0,5%. Quyết định này đưa ra trong bối cảnh Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) nhìn chung tiếp tục giữ nguyên dự báo về tăng trưởng kinh tế, khi những rủi ro đối với kinh tế khu vực trở nên cân bằng hơn.

Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBoC) chưa có động thái điều chỉnh lãi suất cho vay cơ bản (LPR) trong bối cảnh nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đang phục hồi mạnh mẽ và thích nghi tốt trước tác động dịch Covid-19. Theo đó, lãi suất cho vay cơ bản kỳ hạn một năm (LPR) được giữ nguyên ở mức 3,85%, trong khi LPR kỳ hạn 5 năm vẫn ở mức 4,65%, lãi suất cho các khoản vay MLF kỳ hạn 1 năm đối với các tổ chức tài chính vẫn ở mức 2,95%.

7.2. Việt Nam

Trước tín hiệu tích cực từ tình hình kinh tế trong nước và thế giới 4 tháng đầu năm 2021 cùng với hoạt động sản xuất vaccine phòng Covid-19, bên cạnh đó là áp lực lạm phát đang có xu hướng quay trở lại với đà tăng của mặt bằng giá hàng hóa thế giới, đồng thời mức độ dư thừa trong thanh khoản hệ thống ngân hàng rất dồi dào, tình hình lãi suất cơ bản tại Việt Nam trong tháng 04//2021 vẫn duy trì ổn định như tháng 12/2020. Cụ thể:

-         Lãi suất tái cấp vốn: giữ ở mức 4,00%/năm;

-         Lãi suất tái chiết khấu: giữ ở mức 2,50%/năm;

-         Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng:giữ ở mức 5,00%/năm;

-         Lãi suất chào mua giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở:giữ ở mức 2,50%/năm.

Trong khi đó, một số loại lãi suất tiền gửi vẫn duy trì ổn định như tháng 9/2020:

-         Lãi suất đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng VND giữ ở mức 0,5%/năm;

-         Lãi suất đối với tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc bằng VND giữ ở mức 0%/năm;

-         Lãi suất tiền gửi bằng VND của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Quỹ tín dụng nhân dân và Tổ chức tài chính vi mô tại NHNN 0,8%/năm;

-         Lãi suất tiền gửi của Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại NHNN giảm còn 0,8%/năm.

Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng tháng 04/2021 duy trì xu hướng tăng đều so với mức lãi suất tháng 03/2021, cụ thể: lãi suất bình quân kỳ hạn qua đêm, 01 tuần và 01 tháng chứng kiến đà tăng mạnh vào dịp cận kỳ nghỉ lễ (23/04—28/04) với mức đỉnh tương ứng kỳ hạn qua đêm, 1 tuần lần lượt đạt 1,2%/năm; 1,46%/năm. Tuy nhiên mức định này vẫn thấp hơn giá trị ghi nhận dịp cận Tết nguyên đán

Nguyên nhân xu thế tăng lãi suất liên ngân hàng tháng 04/2021 chủ yếu là do: (i) thanh khoản hệ thống ngân hàng hiện tại vẫn ở trạng thái tương đối dồi dào; (ii) tín hiệu tích cực từ kết quả kiểm soát tăng trưởng kinh tế, lạm phát của chính phủ trong tháng 04/2021; (iii) dư nợ tín dụng tiếp tục đà tăng trưởng mạnh trong nửa đầu tháng 04/2021, đạt 3,34% tính tới ngày 16/4, tăng từ mức 2,93% vào cuối Qúy I/2021.

Trước tín hiệu đáng lo ngại từ việc giá nguyên liệu đầu vào tăng cũng như áp lực lạm phát lên lãi suất tăng trở lại trong tháng 02/2021, từ đầu tháng 3/2021 đến nay, lãi suất huy độngsố ít ngân hàng điều chỉnh tăng, trong khi đa số vẫn tiếp tục đà đi xuống.

Tính chung trên toàn hệ thống, khoảng dao động phổ biến của lãi suất huy động trong tháng 04/2021 tại tất cả các kỳ hạn đều có xu hướng duy trì ổn định so với tháng 03/2021. Cụ thể như bảng 7 dưới đây:

Bảng 8: Lãi suất tiền gửi của hệ thống ngân hàng thương mại tháng 04/2021

Kỳ hạn

Tháng 03/2021
(%/năm)

Tháng 04/2021
(%/năm)

Mức biến động (%/năm)

Kỳ hạn dưới 6 tháng

3,1 - 3,8

3,1 - 3,8

0,0

Kỳ hạn6 đến dưới 12 tháng

4,0 - 6,0

4,0 - 6,0

0,0

Kỳ hạn 12, 13 tháng

5,6 - 6,8

5,6 - 6,8

0,0

Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Ngân hàng Nhà nước

Tương tự như mặt bằng lãi suất huy động, mặt bằng lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với một số ngành lĩnh vực duy trì ổn định so với tháng trước ở mức 4,5%/năm.

Lãi suất trúng thầu của trái phiếu Kho bạc Nhà nước tháng 04/2021 chứng kiến sự biến động theo các kỳ hạn 5 năm, 10 năm, 15 năm, 20 năm, 30 năm so với tháng 03/2021 với xu thế tăng tại phần lớn các kỳ hạn (trừ các kỳ hạn 20 năm; 30 năm giữ ổn định). Mức biến động lãi suất trúng thầu của trái phiếu Kho bạc Nhà nước trong tháng 04/2021 so với tháng 03/2021 dao động từ 0,02% đến 0,11%/năm. Trong đó, lãi suất trúng thầu tại kỳ hạn 10 năm ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong phiên phát hành cuối tháng 04/2021 là 0,11%/năm.

* Dự báo: Nhìn chung, lãi suất trong tháng 05/2021 nhiều khả năng sẽ giữ ổn định hoặc tăng nhẹ tại một số kỳ hạn với các kịch bản sau:

Kịch bản 1: kinh tế trong nước và thế giới tiếp tục duy trì đà phục hồi, khả năng kháng cự, thích ứng tốt trước tác động dịch Covid-19, đi liền với đó nhu cầu tín dụng cho hoạt động sản xuất, tiêu dùng gia tăng.

Lúc này, biện pháp hỗ trợ nền kinh tế thông qua việc hạ lãi suất không phát huy hiệu quả mà thay vào đó là các công cụ hỗ trợ khác như tài khóa, xuất khẩu, đầu tư. Lúc này, Mặt bằng lãi suất trên thị trường sẽ tiếp tục duy trì trạng thái ổn định hoặc tăng nhẹ tại một số nhớm kỳ hạn hoặc lĩnh vực trước nhu cầu vốn tín dụng đầu tư phục hồi kinh tế giai đoạn nửa sau 2021 tăng manh.

Kịch bản 2: các biện pháp ngăn ngừa và kiểm soát dịch Covid-19 bất lực trước sự bùng phát các biến chủng mới mạnh hơn, dịch lây lan mở rộng trở lại tại Việt Nam và không có dấu hiệu suy giảm tại nhiều nước trên thế giới, biện pháp giãn cách xã hội để phòng chống dịch được khôi phục và tăng cường trên phạm vi toàn cầu.

Khi đó, áp lực suy giảm tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam hiện hữu, gánh nặng suy thoái kinh tế tiếp tục bao trùm trên phạm vi toàn cầu về lâu dài, hoạt động sản xuất kinh doanh bị đình đốn.

Để cứu vãn nền kinh tế với điều kiện nỗ lực kiểm soát các chỉ số kinh tế vĩ mô của Chính phủ đạt hiệu quả, thanh khoản tiếp tục dư thừa, lãi suất cho vay nhiều khả năng tiếp tục được điều chỉnh giảm nhẹ nhưng chủ yếu ở các kỳ hạn ngắn (dưới 6 tháng), còn các kỳ hạn dài (trên 12 tháng) sẽ khó giảm do chịu ảnh hưởng nhiều hơn của nhu cầu tái cơ cấu nguồn vốn nhằm đáp ứng các quy định trong nội bộ ngành ngân hàng.

8. Tỷ giá VND/USD tháng 04/2021 có xu hướng quay chiều giảm nhẹ với mức giảm 0,36% tương ứng 84 VND/USD và xu hướng này nhiều khả năng tiếp tục duy trì vào tháng 05/2021

8.1. Đồng USD trên thị trường thế giới tháng 04/2021

Trong bối cảnh Fed và chính phủ Mỹ tiếp tục nới lỏng tài khóa, tiền tệ với kế hoạch bơm thêm tiền vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng sau khi đã triển khai gói kích thích 1.800 tỷ USD, cùng với quyết định đình chỉ việc sử dụng vắc-xin Johnson & Johnson của các cơ quan quản lý dược phẩm Mỹ (CDC và FDA) đã khiến cho đồng USD ngay lập tức được bán tháo trên phạm vi rộng.

Điều này khiến chỉ số giá đô la Mỹ tháng 04/2021 đảo chiều xu hướng tăng đều trong tháng 03/2021, giảm từ 92,947 (01/04) xuống 91,270 (30/04) tương ứng 1,677 tăng 0,23% so với tháng trước; giảm 0,11% so với tháng 12/2020 và giảm 0,7% so với cùng kỳ năm 2020.

Đồng USD có xu hướng giảm giá đối với các đồng tiền chủ chốt như đồng EUR, JPY, SGD… ngoại trừ đồng GBP. Cụ thể, đồng bạc xanh giảm hơn 2% so với EUR, giảm 1,18% so với JPY, giảm 1,38% so với CNY, giảm hơn 1% so với SGD, giảm 1,73% so với KRW và giảm 1,3% so với AUD.Chuỗi giảm giá kéo dài suốt cả tháng 4/2021 là đợt giảm dài nhất kể từ cuối tháng 7/2020 khi giảm liên tiếp 6 tuần. Mức giảm giá trong tháng 04/2021 cũng nhiều nhất kể từ sau khi giảm 4% ở tháng 7/2020. 

So với tháng 01/2021, đồng USD cũng diễn biến theo xu hướng trái chiều khi tăng điểm so với các EUR, JPY, CNY và SGD; ngược lại giảm điểm so với GBP, AUD và KRW. Cụ thể, đồng USD tăng 0,82% so với đồng EUR, tăng 4,42% so với JPY, tăng 0,72% so với CNY và tăng 0,14% so với SGD. Trong khi đó, đồng USD lại giảm 0,82% so với GBP, giảm 0,93% so với AUD và giảm 0,56% so với KRW.

So với tháng 4/2020, đồng USD thể hiện xu hướng giảm điểm, ngoại trừ so với JPY. Cụ thể, đồng USD giảm 8,89% so với đồng EUR, giảm 8,88% so với GBP, giảm 8,33% so với CNY, giảm 5,61% so với SGD, giảm 7,56% so với KRW và đặc biệt giảm 15,6% so với AUD.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2021, USD có hướng diễn biến trái chiều khi thể hiện xu hướng giảm điểm so với đồng EUR, GBP và AUD, lần lượt giảm là 7,15%, 1,08%, 0,29%. Ngược lại, diễn biễn tăng điểm so với JPY, CNY, SGD và KRW, cụ thể mức tăng lần lượt là 5,9%, 0,21%, 0,67% và 2,45%.

8.2. Tỷ giá VND/USD tháng 04/2021

Tháng 04/2021, tỷ giá trung tâm VND/USD có xu hướng đảo chiều giảm nhẹ với mức giảm 0,36% tương ứng 84 VND/USD, từ 23.242 VND/USD ngày 01/04/2021 lên mức 23.158 VND/USD ngày cuối tháng 29/04/2021. Ngày 29/04/2021, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm cặp đồng tiền VND/USD được áp dụng trong ngày ở mức 23.158VND/USD. Với biên độ +/-3% theo quy định, tỷ giá sàn là 22.465VND/USD, tỷ giá trần 23.855VND/USD.

Cụ thể, lúc 10h10 ngày 29/04, tại ngân hàng Vietcombank niêm yết giao dịch mua - bán ở mức 22.930 - 23.140VND/USD. Tại Ngân hàng BIDV, niêm yết giao dịch mua - bán tại mốc 22.940 - 23.140VND/USD.Tại Techcombank, niêm yết giao dịch mua - bán đứng ở mức 22.963 - 23.163 VND/USD. Tại Vietinbank, niêm yết giao dịch mua - bán đứng ở mức 22.948 - 23.148VND/USD. Tại Ngân hàng Eximbank, niêm yết giá mua - bán đứng ở mức 22.980  - 23.160 VND/USD.

Trên thị trường tự do, ngày 29/04/2021,giá mua bán USD vẫn tiếp tục tăng mạnh, giao dịch quanh mức 23.125 - 23.803 23.970-24.020 VND/USD, giảm lần lượt 845 - 217 VND/USD ở chiều mua vào và bán ra so với cuối tháng trước.

* Dự báo: Tỷ giá VND/USD tháng 05/2021nhiều khả năng tiếp tục xu hướng giảm nhẹ do tác động từ khả năng phục hồi tăng trở lại của đồng USD trên thế giới trong tháng 05/2021 sau chuỗi thời giam giảm điểm liên tục trong tháng 04/2021 trong bối cảnh Fed, chính phủ Mỹ có những đánh giá tích cực và cam kết hỗ trợ nền kinh tế Mỹ. Cùng với đó lượng dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam luôn đảm bảo đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ của các doanh nghiệp nhập khẩu./.

Trở lại
CÁC BÀI VIẾT KHÁC
40 triệu USD hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ (25/12/2010)
Các doanh nghiệp lớn ám ảnh bởi vụ Vinashin (25/12/2010)
Giá vàng và USD quay đầu giảm mạnh (22/02/2011)
Giá mặt bằng bán lẻ Hà Nội - TP HCM cùng hạ nhiệt (19/01/2011)
Vàng ‘rơi’ xuống đáy của 2 tháng (21/01/2011)
Thống đốc Ngân hàng giải trình về lãi suất, lạm phát (25/12/2010)
Vàng vượt 36,3 triệu đồng (15/02/2011)
Báo cáo tài chính nhà nước năm 2018 đang dần hoàn thiện (09/01/2020)
Mặt hàng nào giảm giá mạnh sau kì nghỉ lễ? (06/05/2011)
Nhà đất Hà Nội, Sài Gòn rục rịch giảm giá (23/05/2011)
Sữa nội vẫn chưa chịu giảm theo giá thế giới (31/05/2011)
Giảm mục tiêu tăng trưởng, nới chỉ tiêu lạm phát (06/06/2011)
Thị trường bán lẻ Việt Nam liên tiếp rớt hạng (08/06/2011)
Xe ngoại tăng mạnh trước thời điểm siết thủ tục nhập khẩu (27/06/2011)
Thu hút FDI giảm một nửa (28/06/2011)
Xem tiếp
 
 
         Tin tức & sự kiện mới
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2020 và dự báo 2021
Thông báo v/v nhận Hồ sơ đăng ký xét tuyển thẳng học sinh giỏi ở bậc THPT vào đại học chính quy Học viện Tài chính năm 2020
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2019 và dự báo cả 2020.
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam 6 tháng đầu năm và dự báo cả năm 2019.
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2018 và dự báo 2019
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 11 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 10 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 9 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 8 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 7 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 6 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 5 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 4 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 3 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 2 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 1 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 12 năm 2020
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 11 năm 2020
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 10 năm 2020
Báo cáo phân tích dự báo tháng 9 năm 2020
        Email
        Hình ảnh hoạt động
Khóa học Quản trị Tài chính (từ 14-16/7/2011)
Viện kỷ niệm 86 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam
Bế giảng khóa học Quản trị Tài chính (14/5/2011)
Khóa Quản trị Công ty ngày 7-9/4/2011
Bế giảng khóa học Quản trị Công ty (9/4/2011)
Xem toàn bộ

Viện Kinh tế - Tài chính

162 Nguyễn Văn Cừ - Long Biên - Hà Nội

ĐT: 024 39334139, Fax: 024 38252475

Email: vienkttc@hvtc.edu.vn