Chương trình đào tạo
Các khóa học ngắn hạn
Các khóa học dài hạn
Lịch tuyển sinh
Đăng ký trực tuyến
        Tin nóng
 
         Tìm kiếm thông tin
         Hỗ trợ trực tuyến
Phòng Khoa học và Đào tạo
Bản tin Thị trường
Phòng NC Tài chính
Phòng NC Thị trường Giá cả
Phòng Hành chính Tài vụ
         Liên kết website
         Đối tác khách hàng
         Thông kê truy cập
Online: 2
Visited: 1011692
 
  

 

 

Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 7 năm 2021

1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2021 tăng 0,19% so với tháng trước và tăng2,41%so với tháng 6/2020. Bình quân 6 tháng đầu năm 2021, CPI tăng 1,47% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016.

1.1. Diễn biến

Theo số liệu vừa được công bố từ Tổng cục Thống kê, CPI tháng 6/2021 tăng 0,19% so với tháng 5/2021. Nguyên nhân chủ yếu là do:

- Thứ nhất, giá nguyên, nhiên vật liệu đầu vào tăng theo giá thế giới với các đợt điều chỉnh giá xăng, dầu vào ngày 12/5/2021; 11/6/2021 và 26/6/2021, trong đó giá xăng E5 tăng 1.340 đồng/lít so với tháng trước, giá xăng A95 tăng 1.380 đồng/lít, giá dầu diezen tăng 1.340 đồng/lít làm cho giá nhóm giao thông có mức tăng so với tháng trước cao nhất với 1,07%.

- Thứ hai, giá điện, nước sinh hoạt tăng theo nhu cầu tiêu dùngdo các đợt nắng nóng trong tháng làm chỉ số giá điện, nước sinh hoạt lần lượt tăng 1% và tăng 0,26%, bên cạnh đó giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 1,26% theo giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào; giá gas tăng 3,85% do giá gas trong nước điều chỉnh tăng 14.000 đồng/bình 12 kg sau khi giá gas thế giới tăng 42,5 USD/tấn (từ mức 485 USD/tấn lên mức 527,5 USD/tấn) làm cho giá nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,63% so với tháng trước.

So với cùng kỳ năm ngoái, CPI tháng 6/2021 tăng 2,41% so với tháng 6/2020 và tăng 1,62%so với tháng 12/2020. Bình quân 6 tháng đầu năm 2021, CPI tăng 1,47% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016 tới nay. 

 

CPI tháng 6/2021 so với

CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2021 so với cùng kỳ năm 2020

Tháng 5
năm 2021

Tháng 12
năm 2020

Tháng 6 năm 2020

Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng

+0,19%

+1,62%

+2,41%

+1,47%

Nguyên nhân chính khiến CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2021 vẫn tăng so với cùng kỳ năm 2020 là do:

- Thứ nhất,giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh tăng theo giá thị trường thế giới nhiều lần trong 6 tháng đầu năm 2021 khiến giá xăng dầu trong nước bình quân 6 tháng đầu năm 2021 tăng 17,01% so với cùng kỳ năm trước, tác động làm cho giá giao thông tăng mạnh nhất với 5,59%.

- Thứ hai, giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng gạo nếp và gạo tẻ ngon trong dịp Tết Nguyên đán tăng cao làm cho giá gạo 6 tháng đầu năm 2021 tăng 6,97% so với cùng kỳ năm trước, do đó góp phần khiến giá nhóm lương thực tăng tới 5,53%.

-Thứ ba, giá dịch vụ giáo dục 6 tháng tăng 4,47% so với cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng từ đợt tăng học phí năm học mới 2020-2021 theo lộ trình của Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ.

Bên cạnh đó, một số yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI 6 tháng đầu năm như ảnh hưởng của dịch Covid-19 khiến người dân hạn chế đi lại, theo đó giá vé tàu hỏa 6 tháng đầu năm giảm 3,41% so với cùng kỳ năm trước; giá vé máy bay giảm 17,05%; giá du lịch trọn gói giảm 2,85% tác động làm cho giá nhóm Văn hóa, giải trí và du lịch giảm mạnh nhất ở mức -1,19% so với cùng kỳ năm ngoái. Sau đó là sự sụt giảm của giá bưu chính viễn thông ở mức -0.68%. Giá các mặt hàng thực phẩm 6 tháng đầu năm giảm 0,39% so với cùng kỳ năm trước, trong đó giá thịt lợn giảm 4,15%, giá thịt gà giảm 2,04%.Trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, dưới sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, các ngành các cấp đã tích cực triển khai thực hiện các giải pháp đồng bộ để ngăn chặn dịch bệnh và ổn định giá cả thị trường.

Về lạm phát cơ bản (theo thước đo CPI loại trừ lương thực, thực phẩm, năng lượng và mặt hàng do nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục), 6 tháng đầu năm 2021tăng 0,07% so với tháng trước, tăng 1,14% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 6 tháng đầu năm 2021 lạm phát cơ bản tăng 0,87% so với cùng kỳ năm 2020, thấp hơn mức CPI bình quân chung (tăng 1,47%), điều này phản ánh biến động giá tiêu dùng chủ yếu do giá lương thực, giá xăng, dầu và giá gas tăng. Mức lạm phát cơ bản tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2021 so với cùng kỳ năm trước đều là mức thấp nhất kể từ năm 2011.

1.2. Dự báo

Dự báo CPI năm 2021 tăng trung bình 2% - 2,5%.

Hiện tại, chỉ số giá tiêu dùng tháng 6/2021 đã tăng 0,19% so với tháng trước và tăng 1,62% so với tháng 12/2020. Như vậy, trong vòng 6 tháng qua CPI tăng trung bình khoảng 0,27%/tháng. Nếu tốc độ tăng giá này được duy trì trong thời gian còn lại của năm, lạm phát so với cùng kỳ năm trước sẽ tăng từ mức 2,41% hiện nay lên mức 3,28% vào tháng 12/2021, đồng thời lạm phát trung bình của cả năm 2021 sẽở mức 2,12%. Còn trong trường hợp giá xăng dầu tiếp tục tăng mạnh và CPI giảđịnh tăng trung bình 0,5%/tháng thời gian tới, lạm phát so với cùng kỳ của tháng 12/2021 sẽở mức 4,71%, nhưng lạm phát trung bình cũng chỉở mức 2,53%.

Với những giảđịnh trên, chúng tôi tiếp tục duy trì dự báođãđưa ra từ đầu năm là lạm phát trung bình trong năm 2021 sẽ chỉ vào khoảng 2% và chắc chắn sẽ dưới mức 3%, bất chấp giá xăng dầu và giá nguyên vật liệu trên thế giới tiếp tục tăng mạnh.

Thực trạng lạm phát thấp hiện nay và trong cả năm 2021 có nguyên nhân chính là do cầu tiêu dùng trong nước rất yếu. Theo số liệu của Tổng cục Thốngkê, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong 6 tháng đầu năm 2021 chỉ tăng 3,55% so với cùng kỳ năm trước sau khi loại trừ yếu tố giá, tức là thấp hơn đáng kể mức tăng trưởng chung của toàn bộ nền kinh tế là 5,64%. Hơn nữa, do chỉ số này của 6 tháng đầu năm 2020 đã giảm tới 5,77% so với cùng kỳ năm 2019, nên có thể suy ra là tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong 6 tháng đầu năm 2021 vẫn còn thấp hơn về giá trị tuyệt đối so mức của năm 2019, tức làđã giảm trong 2 năm qua. Các con số này cho thấy tác động tiêu cực của dịch bệnh Covid-19 tới thu nhập, đời sống của người dân là rất lớn.

Cũng do sự sụt giảm của cầu tiêu dùng nộiđịa, lạm phát cơ bản trong tháng 6/2021 chỉ tăng 0,07% so với tháng trước và tăng 1,14% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản thấp cùng với sự sụt giảm của giá thực phẩm (như giá thịt lợn, giá thịt gà) đã cân bằng hết tất cả các tác động của giá xăng dầu, giá vật liệu xây dựng tăng cao thời gian qua.

Như vậy, tổng cầu yếu do Covid-19 là nguyên nhân cơ bản giữ cho lạm phát tại Việt Nam được duy trìở mức thấp trong bối cảnh giá các hàng hóa cơ bản trên thế giới tăng cao. Mục tiêu kiềm chế lạm phát trung bìnhở mức dưới 4% trong năm 2021 chắc chắn sẽđạt được. Mặc dù vậy, tình trạng lạm phát thấp do tổng cầu yếu hiện nay không hẳn làđiềuđáng mừng!

2. Dự báog bình quân của dầu thô và xăng dầu thành phẩm thế giới tháng 7/2021sẽ tăng từ 1-4% so với tháng 6/2021.

2.1. Thị trường thế giới:

Ngày 1/6/2021, OPEC và các đồng minh (gọi tắt là OPEC+) đã nhất trí với kế hoạch nới lỏng thoả thuận giảm nguồn cung. Theo đó, OPEC+ đồng ý tăng sản lượng 350.000 thùng/ngày trong tháng 6 và 450.000 thùng/ngày từ tháng 7/2021. Ngoài ra, Arab Saudi cũng quyết định ngừng giảm sản lượng 1 triệu thùng/ngày.

Tại hội nghị trực tuyến diễn ra ngày 02/7/2021, OPEC+ đã không đạt được thỏa thuận nào khi bàn thảo phương án nên giữ nguyên chính sách sản lượng hay nới lỏng thêm nguồn cung. Đây là dấu hiệu cho thấy Các nước OPEC+ đã xảy ra bất đồng khi Các Tiểu vương quốc Arập Thống nhất (UAE) phản đối đề xuất kéo dài thời gian cắt giảm sản lượng đến cuối năm 2022với lý do OPEC+ nên thay đổi đường cơ sở (baseline) để tính toán cắt giảm sản lượng, nâng hạn ngạch sản xuất một cách hiệu quả.

Theo nguồn tin giấu tên từ OPEC+ của Reuters, OPEC đã chấp thuận tăng nguồn cung thêm 400.000 thùng/ngày từ tháng 8/2021 đến tháng 12/2021 để đáp ứng nhu cầu dầu mỏ gia tăng.

Theo hãng tư vấn Vortexa, tồn kho dầu nổi toàn cầu tính đến ngày 18/06/2021 ở mức 88,11 triệu thùng, giảm 33,23 triệu thùng so với cùng kỳ năm ngoái; Viện Xăng dầu Mỹ (API) cho biết lượng dầu dự trữ của Mỹ đã giảm 8 triệu thùng trong tuần kết thúc vào ngày 2/7/2021, cao hơn nhiều so với dự đoán giảm 4 triệu thùng được các chuyên gia phân tích đưa ra trong cuộc khảo sát của hãng tin Reuters.

Theo báo cáo tháng 5/2021 của OPEC+ thì nhu cầu dầu toàn cầu sẽ tăng 5,95 triệu thùng/ngày trong năm 2021, tương đương tăng 6,6% so với năm 2020, lên mức 96,46 triệu thùng/ngày…

Tháng 6/2021 giá dầu thô thế giới tiếp tục tăng do hạn chế nguồn cung từ nhóm OPEC+ và sự lạc quan về nhu cầu phục hồi kinh tế của Mỹ. Cùng với đó là tồn kho dầu thô tại Mỹ đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 3/2020 và hoạt động bán lẻ tăng mạnh nhất kể từ khi nước Đức thống nhất hơn 3 thập kỷ trước, đặt ra kỳ vọng nhu cầu nhiên liệu của châu Âu sẽ phục hồi đã tiếp tục hỗ trợ giá dầu.

Diễn biến này làm cho:

- Giá dầu thô bình quân của 3 thị trường Brent, Dubai và West Texas  Intermediate tháng 06/2021 ở mức 71,80USD/thùng (tăng 8,14% so với tháng 05/2021);

- Giá xăng RON 95 bình quân tại thị trường Singapore tháng 06/2021 ở mức 79,86USD/thùng (tăng 4,80% so với tháng 05/2021).

2.2. Thị trường Việt Nam:

Tháng 06/2021, do giá xăng dầu thế giới biến động nên Liên Bộ Công Thương – Tài Chính đã điều chỉnh tăng khá mạnh giá bán lẻ xăng dầu vào ngày 11/06 và 26/06/2021. Cụ thể, giá bán lẻ một số mặt hàng xăng dầu được điều chỉnh như trong bảng 1.

Bảng 1: Giá xăng dầu bán lẻ tại vùng 1 tháng 6/2021

 

Xăng RON 95-III (VND/lít)

Xăng E5 RON 92-II (VND/lít)

Dầu hỏa (VND/lít)

Dầu Diesel 0,05S-II (VND/lít)

Dầu Mazut 3,5S (VND/kg)

Mức giá từ ngày 27/5/2021

19.530

18.420

13.820

14.770

14.270

Mức giá từ ngày 11/6/2021

20.160

19.040

14.410

15.440

14.950

Mức giá từ ngày 26/6/2021

20.910

19.760

15.050

16.110

15.440

Mức giá ngày 11/6 so với 27/5/2021

Số tuyệt đối

630

620

590

670

680

%

3,23

3,37

4,27

4,54

4,77

Mức giá ngày 26/6 so với 11/6/2021

Số tuyệt đối

750

720

640

670

490

%

3,72

3,78

4,44

4,34

3,28

Mức giá ngày 26/6 so với 27/5/2021

Số tuyệt đối

1.380

1.340

1.230

1.340

1.170

%

7,07

7,27

8,90

9,07

8,20

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Petrolimex

Như vậy, giá xăng dầu vùng 1 được điều chỉnh vào ngày 26/6/2021 như sau: giá xăng RON 95-III là 20.910VND/lít (tăng 1.380VND/lít, tương đương 7,07% so với cuối tháng 5/2021); giá xăng E5 RON 92-II là 19.760VND/lít (tăng 1.340VND/lít, tương đương 7,27%); dầu hỏa là 15.050VND/lít (tăng 1.230VND/lít, tương đương 8,90%); dầu Diesel 0,05S-II là 16.110VND/lít (tăng 1.340VND/lít, tương đương 9,07%); dầu Mazut 3,5S là 15.440VND/kg (tăng 1.170VND/lít, tương đương 8,20%)…

Cùng với việc điều chỉnh giá xăng dầu, Liên Bộ Tài chính - Công Thương đã thực hiện mức trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu trong tháng 6/2021 như được nêu cụ thể ở bảng 2 và 3.

Bảng 2: Mức trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu tháng 6/2021

 

Xăng các loại (trừ xăng sinh học, VND/lít)

Xăng E5 (VND/lít)

Dầu hỏa (VND/lít)

Diesel (VND/lít)

Mazut các loại (VND/kg)

Mức trích từ ngày 27/5/2021

0

0

0

0

0

Mức trích từ ngày 11/6/2021

0

0

0

0

0

Mức trích từ ngày 26/6/2021

0

0

0

0

0

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Liên Bộ Tài chính - Công Thương

Bảng 3: Mức chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu tháng 6/2021

 

Xăng các loại (trừ xăng sinh học, VND/lít)

Xăng E5 (VND/lít)

Dầu hỏa (VND/lít)

Diesel (VND/lít)

Mazut các loại (VND/kg)

Mức chi từ ngày 27/5/2021

875

1.782

483

593

37

Mức chi từ ngày 11/6/2021

600

1.600

200

300

0

Mức chi từ ngày 26/6/2021

500

1.500

0

100

0

Mức chi ngày 11/6 so với 27/5/2021

Số tuyệt đối

-275

-182

-283

-293

-37

%

-31,43

-10,21

-58,59

-49,41

-100,00

Mức chi ngày 26/6 so với 11/6/2021

Số tuyệt đối

-100

-100

-200

-200

0

%

-16,67

-6,25

-100,00

-66,67

0,00

Mức chi ngày 26/6 so với 27/5/2021

Số tuyệt đối

-375

-282

-483

-493

-37

%

-42,86

-15,82

-100,00

-83,14

-100,00

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Liên Bộ Tài chính - Công Thương

Như vậy so với cuối tháng 5/2021, tháng 6/2021 liên Bộ tiếp tục thực hiện mức trích lập Quỹ bình ổn giá đối với tất cả các loại xăng dầu là 0; liên tiếp giảm mức chi sử dụng quỹ từ ngày 11/6 và 26/6/2021. Việc điều hành này đã khiến cho giá bán lẻ xăng dầu trong nước tháng 6/2021 so tháng 5/2021 có phần tăng nhanh hơn so với mức tăng chung của giá xăng dầu thế giới...

Dự báo: Giá dầu có thể tiếp tục duy trì ở mức cao, do sự lạc quan về nhu cầu tăng cao hơn nguồn cung. Tuy nhiên, sự bất đồng của OPEC+ về việckéo dài thời gian cắt giảm sản lượng có thể khiến cho nguồn cung dầu tăng mạnh trong thời gian tới; thêm vào đó, biến chủng Delta của dịch Covid-19 đang lan rộng tại nhiều nước trên thế giới có thể sẽ cản trở giá dầu tăng cao hơn nữa… Do vậy, dự báo giá dầu thế giới bình quân tháng 07/2021 có thể sẽ tiếp tục tăng từ 1 – 4% so với tháng 06/2021.

3. Dự báo giá lợn hơi tháng 7/2020 sẽ tiếp tục giảm so với tháng 6/2021, dao động ở mức 58.000 – 66.000 VND/kg.

Trong tháng 6/2021, giá lợn hơi cả nước có diễn biến giảm ở cả miền Nam và miền Bắc. Cụ thể.

Bảng 4: Giá lợn hơi ở Việt Nam tháng 6/2021 (VND/kg)

Khu vực

T6/2021

So với T5/2021

So với T6/2020

Miền Bắc

64.600 – 69.800

- 800

- 25.800

Miền Nam

65.400 – 70.000

- 2.800

- 23.300

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu vinanet.vn và nhachannuoi.vn

+ Tại miền Bắc:giá lợn hơi trung bình khoảng 64.600 - 69.800 VND/kg, giảm khoảng 800 VND/kg so với tháng 5/2021.

+ Tại miền Nam: giá lợn hơi trung bình dao động 65.400 – 70.000 VND/kg, giảm 2.800 VND/kg so với tháng 5/2021.

Nguyên nhân: Giá lợn hơi sụt giảm trong tháng 6/2021 đến từ nhiều yếu tố:

- Tình hình dịch bệnh đối với lợn dần được kiểm soát tốt hơn;

- Công tác tái đàn theo hướng an toàn sinh học hỗ trợ việc tăng nguồn cung lợn hơi trong nước;

- Ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19 khiến các nhà hàng, địa điểm du lịch, ăn uống dừng hoạt động, đóng cửa dẫn đến nhu cầu thịt lợn giảm sâu;

- Một bộ phận người tiêu dùng bớt mua do thu nhập sụt giảm vì khó khăn trong dịch Covid-19 hoặc chuyển sang sử dụng các sản phẩm thay thế;

- Việc nhập khẩu thịt lợn và lợn sống từ nước ngoài giúp bổ sung nguồn cung, làm cho nguồn cung mặt hàng này tăng cục bộ, khiến giá lợn hơi trong nước giảm…

Dự báo: Do diễn biến phức tạp của dịch Covid – 19 nên nhiều hoạt động xã hội hạn chế, bếp ăn trường học, nhà hàng ở nhiều địa phương còn tạm dừng hoạt động… nên nhu cầu tiêu thụ thịt lợn chưa hồi phục trở lại, trong tháng 7/2021, giá thịt lợn có thể duy trì trong khoảng 58.000 – 66.000 VND/kg.

4. Dự báo tháng 7/2021 glúa gạo xuất khẩu sẽ giảm từ 0-2% so với tháng 6/2021.

4.1. Giá xuất khẩu:

Trong tháng 6/2021, giá gạo của một số nước xuất khẩu lớn có diễn biến trái chiều. Cụ thể, giá gạo của một số nước được phản ánh như trong bảng 5 và đồ thị 5.

Bảng 5: Giá bình quân xuất khẩu gạo 5% tấm của Thái Lan, Ấn Độ và Việt Nam          tháng 6/2021

 

Gạo 5% tấm Thái Lan (USD/tấn)

Gạo 5% tấm

Ấn Độ (USD/tấn)

Gạo 5% tấm Việt Nam (USD/tấn)

Giá bình quân tháng 6/2020

513

372

451

Giá bình quân tháng 5/2021

471,5

376

492,5

Giá bình quân tháng 6/2021

455

377,7

484,4

Mức giá T6/2021 so với T5/2021

Số tuyệt đối

-16,5

1,7

-3,5

%

- 3,5

0,59

- 1,64

Mức giá T6/2021 so với T6/2020

Số tuyệt đối

- 58

5

33,4

%

- 11,31

1,53

7,41

Nguồn: Tính toán từ số liệu của FAO và Reuters

Nguyên nhân:

+ Tại Ấn Độ tháng 6/2021, giá loại gạo đồ 5% tấm ở mức 376,3 – 380 USD/tấn, tăng 0,59% so với tháng 5/2021. Giá gạo xuất khẩu của Ấn Độ tăng do giá nhiên liệu cao và thiếu container rỗng dẫn tới cước phí vận chuyển gạo tăng lên.

+ Tại Thái Lan tháng 6/2021, giá gạo 5% tấm ở mức 443 – 467USD/tấn, giảm 3,5% so tháng 5/2021. Giá gạo xuất khẩu của Thái Lan giảm chủ yếu do do nhu cầu thấp và đồng baht suy yếu. Đồng baht Thái đã giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 1 năm qua so với USD khiến giá gạo xuất khẩu cũng theo đó giảm xuống sau khi quy đổi tỷ giá sang USD.

+ Tại Việt Nam, tháng 6/2021, giá loại 5% tấm đạt 482,8- 486USD/tấn, giảm 1,64% so với tháng 5/2021. Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam giảm do giao dịch chậm, các nhà xuất khẩu hạ giá để cạnh tranh với gạo của các xuất xứ khác.…

4.2. Giá lúa gạo tại Việt Nam:

Trên thị trường nội địa tháng 6/2021, tại khu vực ĐBSCL, giá một số loại lúa, gạo có diễn biến trái chiều so với tháng 5/2021. Theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương, tại An Giang, lúa OM6976 ở mức 6.000 - 6.100 VND/kg (giảm 24 VND/kg); gạo thơm đặc sản Jasmine ở mức 14.000 – 14.250 VND/kg (giảm 375VND/kg); gạo thường ở mức 11.000 – 12.000 VND/kg (tăng 400VND/kg); lúa IR50404 ổn định ở mức 7.000 VND/kg, gạo hạt dài ở mức 18.000 – 19.000 VND/kg, không thay đổi so với tháng 5/2021.

Bảng 6: Giá một số loại lúa gạo tại An Giang tháng 6/2021 (VND/kg)

Loại lúa gạo

Giá T6/2021

So với T5/2021

So với T6/2020

Lúa OM6976

6.000 - 6.100

- 24

-200

Lúa IR 50404 (lúa khô)

7.000

-

1.050

Gạo thường

10.600 – 11.600

400

- 100

Gạo hạt dài

18.000 – 19.000

-

-

Gạo thơm Jasmine

14.000 – 14.250 

- 375

- 875

Nguồn: Tổng hợp số liệu của Bộ NN&PTNN và thitruongnongsan.gov.vn

Dự báo: Tháng 7/2021, thị trường gạo châu Á dự kiến khá trầm lắng khi nhu cầu nhập khẩu thấp, tuy nhiên trong bối cảnh cước phí vận chuyển tăng cao do thiếu container rỗng và giá nhiên liệu tăng nên giá gạo xuất khẩu sẽ khó có thể giảm hơn.  Vì vậy, dự báo giá gạo xuất khẩu trong tháng 7/2021 có thể sẽ giảm từ 0-2% so với tháng6/2021…

5. Dự báo tháng 7/2021 so tháng6/2021,giá cà phê thế giới có thể giảm từ 2-5%, giá cà phê nội địa Việt Nam sẽ biến động theo xu hướng này.

5.1. Thị trường thế giới

Tháng 6/2021, giá cà phê Robusta và Arabica có diễn biến tăng mạnh so với tháng 5/2021, cụ thể:

- Tại sàn giao dịch London, giá cà phê Robusta kỳ hạn tháng 9/2021 bình quân tháng 6/2021 ở mức 1.638USD/tấn(tăng 9,49% so tháng 5/2021);

- Tại sàn giao dịch ICE New York, giá cà phê Arabica kỳ hạn tháng 9/2021 bình quân tháng 6/2021 ở mức 3.516 USD/tấn (tăng 6,74% so tháng 5/2021). 

5.2. Thị trường Việt Nam

Tháng 6/2021, tại thị trường Việt Nam, giá cà phê có diễn biến tăng. Tính chung cả tháng 6/2021, giá cà phê Robusta ở khoảng 33.900 –34.800VND/kg (tăng 1.350 VND/kg, tương đương 3,5-4,2%so với tháng 5/2021).

Giá xuất khẩu cà phê bình quân trong nửa đầu tháng 6/2021 ước đạt mức 1.991,95 USD/tấn, tăng 8,34% so với tháng 5/2021 và tăng 16,17% so với cùng kỳ năm 2020.

Nguyên nhân:Giá cà phê Arabicatrên thị trường thế giới tăng mạnh trong tháng 6/2021 so với tháng 5/2021 do mối lo cung khi thời tiết tại Brazil khô hạn từ ngay đầu vụ. Nguồn cung sụt giảm sau chu kỳ bùng nổ kéo dài, cà phê là một trong những mặt hàng có giá tăng cao khi nền kinh tế thế giới mở cửa trở lại. Bên cạnh đó, đồng Real Brazil tăng mạnh, đạt mức cao nhất 1 năm qua so với USD đã góp phần đẩy giá cà phê gia tăng.

Giá cà phê Robusta trên thị trường thế giới tăng  mạnh trong tháng 6/2021 so với tháng 5/2021 do nguồn cung khan hiếm. Cộng hòa Uganda - Nhà sản xuất Robusta hàng đầu châu Phi đã tuyên bố đóng cửa nghiêm ngặt tới cuối tháng 6/2021 bởi bùng phát dịch Covid-19. Điều này đã khiến thị trường tiêu thụ càng thêm lo ngại bên cạnh thiếu hụt nguồn cung từ Việt Nam. Thêm vào đó, chênh lệch giá giữa cà phê Robusta và Arabica gia tăng giúp tăng nhu cầu Robusta.

Giá cà phê trong nước tăng mạnh theo xu hướng tăng chung của giá cà phê trên thị trường thế giới và nguồn cung khan hiếm do người trồng trong nước đã bán gần hết hàng dự trữ...

Dự báo: Tháng 7/2021, nhu cầu cà phê toàn cầu có thể sẽ giảm do nhiều quốc gia đang lo đối phó với đợt dịch Covid-19 thứ tư bùng phát.Ở Việt Nam, trong bối cảnh diễn biến dịch Covid-19 ngày càng phức tạp, chính quyền các địa phương có thể sẽ mạnh tay thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội hơn nữa, tác động tiêu cực lên các hoạt động xuất khẩu cà phê trong ngắn hạn… Vì vậy, dự báo giá cà phê xuất khẩu trong tháng 7/2021 có thể sẽ giảm từ 2-5% so với tháng6/2021.

6. Dự báo giá cao su tháng 7/2021 có thể sẽ giảm từ3-7% so với tháng 6/2021.

6.1. Thị trường thế giới

Tháng 6/2021, giá cao su trên thị trường thế giới có xu hướng giảm khá mạnh.  Tính chung cả tháng 6/2021, giá cao su TSR20 bình quân trên sàn giao dịch SICOM (Singapore) đạt1,64 USD/kg, giảm3,15% so tháng 5/2021; giá cao su RSS3bình quân trên sàn giao dịch SICOM (Singapore) đạt 2,12 USD/kg, giảm7,36% so tháng 5/2021.

6.2. Thị trường Việt Nam

Ở Việt Nam tháng 6/2021, giá mủ cao su nguyên liệu có xu hướng giảm dần về cuối tháng. Công ty TNHH MTV Tổng Công ty Cao su Đồng Nai trong tháng 6/2021 đã thu mua mủ cao su (loại mủ chén, khô) với giá trung bình là 12.100VND/kg giảm 0,98% so với tháng 5/2021.

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, giá cao su xuất khẩu của Việt Nam trong nửa đầu tháng 6/2021 trung bình ước đạt 1,701USD/kg (giảm 1,73% so với tháng 5/2021 và tăng 42,25% so với cùng kỳ năm 2020).

Nguyên nhân: Giá cao su trên thị trường thế giới tháng 6/2021 giảm so với tháng 5/2021do thị trường lo ngại nhu cầu lốp xe giảm khi sản lượng ô tô Trung Quốc giảm bởi thiếu chip.Song song đó, đợt bùng phát dịch tại nhiều công ty sản xuất bán dẫn quan trọng ở Đài Loan (Trung Quốc) và Malaysia đang làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng chip toàn cầu, ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động sản xuất của ngành ô tô, cũng như các ngành công nghệ.

Ngoài ra, đợt bùng phát dịch bệnh tại một trong những cảng biển lớn nhất thế giới ở miền Nam Trung Quốc, gây gián đoạn nghiêm trọng hoạt động vận chuyển hàng hóa toàn cầu, cũng là một trong những nguyên nhân khiến giá cao su đi xuống…

Dự báo: Trong báo cáo tháng 5/2021, Hiệp hội Các nước sản xuất cao su thiên nhiên (ANRPC) dự báo sản lượng cao su tự nhiên toàn cầu năm 2021 đạt 13,8 triệu tấn, tăng 5,8% so với năm 2020 (điều chỉnh tăng 0,1% so với mức dự báo trong báo cáo tháng 4/2021).Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ cao su tự nhiên năm 2021 dự báo đạt 13,7 triệu tấn, tăng 6,7% so với năm 2020 (điều chỉnh tăng 0,9% so với mức dự báo của tháng 4/2021). Tuy nhiên, tình trạng sản lượng ô tô toàn cầu giảm bởi thiếu chipvà số ca nhiễm Covid-19 tăng vọt trên thế giới đã khiến cho nhu cầu cao su tự nhiên có dấu hiệu giảm tiếp… Vì vậy, dự báo giá cao su tự nhiên trong tháng 7/2021 có thể sẽ giảm từ 3-7% so với tháng6/2021.

7. Lãi suất trong tháng 07/2021 phục hồi tăng nhẹ trước nhu cầu tín dụng hỗ trợ sản xuất gia tăng trở lại sau khi sự bùng phát trở lại dịch Covid-19 biến chủng mới tạm lắng tại nhiều địa phương.

7.1. Thế giới

Mặc dù nâng mức dự báo về tỷ lệ lạm phát và triển vọng của nền kinh tế, song Ngân hàng Trung ương các nước nhìn chung vẫn thận trọng trong quyết định chính sách tiền tệ bởi cho rằng đây chỉ là hiện tượng tạm thời của nền kinh tế.Mức lãi suất cơ bản thấp vẫn được duy trì trong tháng 06/2021 như các tháng trước nhằm tránh gây ra xáo trộn trong giới đầu tư ảnh hưởng tiêu cực đến việc phục hồi nền kinh tế. Và mức lãi suất thấp như hiện nay nhiều khả năng sẽ được duy trì ổn định trong năm 2021.

Sau cuộc họp 16-17/6, mặc dù nâng triển vọng tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại Mỹ song Fed thông báo giữ nguyênlãi suất quỹ liên bang ở mức 0 - 0,25% kể từ tháng 3/2020 nhằm tăng cường tốc độ phục hồi việc làm vốn còn  đang chậm.

Tương tự như Fed, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tuyên bố vẫn duy trì lãi suất cơ bản, lãi suất cho vay trung hạn và lãi suất tiền gửi lần lượt ở mức 0%; 0,25% và -0,5%. Quyết định này đưa ra trong bối cảnh lạm phát tăng và nền kinh tế phục hồi khi các biện pháp kiểm soát dịch được nới lỏng tạikhu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone).

Trong khi đó, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBoC) phát đi tín hiều duy trì ổn định lãi suất cho vay cơ bản (LPR) trong bối cảnh nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đang phục hồi mạnh mẽ và thích nghi tốt trước tác động dịch Covid-19. Theo đó, lãi suất cho vay cơ bản kỳ hạn một năm (LPR) được giữ nguyên ở mức 3,85%, trong khi LPR kỳ hạn 5 năm vẫn ở mức 4,65%, lãi suất cho các khoản vay MLF kỳ hạn 1 năm đối với các tổ chức tài chính vẫn ở mức 2,95%.

7.2. Việt Nam

Mặc dù tình hình dịch Covid-19 biến chủng mới bùng phát lan rộng tại nhiều địa phương, một số tỉnh thành duy trì giãn cách xã hội như TP. Hồ Chí Minh song cũng như nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn duy trì ổn định lãi suất cơ bản trong tháng 06//2021 như tháng 12/2020 nhằm tránh gây nhiều xáo trộn đến tiến trình phục hồi sản xuất, kinh tế. Cụ thể:

-         Lãi suất tái cấp vốn: giữ ở mức 4,00%/năm;

-         Lãi suất tái chiết khấu: giữ ở mức 2,50%/năm;

-         Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng:giữ ở mức 5,00%/năm;

-         Lãi suất chào mua giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở:giữ ở mức 2,50%/năm.

Trong khi đó, một số loại lãi suất tiền gửi vẫn duy trì ổn định như tháng 9/2020:

-         Lãi suất đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng VND giữ ở mức 0,5%/năm;

-         Lãi suất đối với tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc bằng VND giữ ở mức 0%/năm;

-         Lãi suất tiền gửi bằng VND của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Quỹ tín dụng nhân dân và Tổ chức tài chính vi mô tại NHNN 0,8%/năm;

-         Lãi suất tiền gửi của Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại NHNN giảm còn 0,8%/năm.

Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng tháng 06/2021 đảo chiều xu hướng giảm nhẹ so với mức lãi suất tháng 05/2021, cụ thểtiếp tục có diễn biến giảm ở cả 3 loại kỳ hạn qua đêm, 1 tuần và 1 tháng, với mức giảm lần lượt là 0,06%; 0,01% và 0,21% rồi lấy lại đà tăng tưởng và tuần cuối tháng với mức tăng lần lượt là 0,26%; 0,24% và 0,32%, lên mức 1,21%; 1,41% và 1,77%/năm

Nguyên nhân xu thế giảm quay lại với lãi suất liên ngân hàng tháng 06/2021 chủ yếu là do diễn biến căng thẳng trở lại của dịch bệnh Covid-19 cùng những tác động tiêu cực đối với hoạt động sản xuất kinh doanh nhiều khả năng đã làm giảm nhu cầu tín dụng giai đoạn đầu tháng 6/2021. Nhu cầu tín dụng giảm đã phần nào hỗ trợ giảm căng thẳng thanh khoản và giúp cho lãi suất liên ngân hàng giảm nhẹ trở lại trong các tuần đầu tháng 6/2021.

Trong bối cảnh dòng tiền nhàn rỗi có xu hướng chảy sang chứng khoán, lãi suất huy độngtại một số ngân hàng đã tăng nhẹ so với hồi đầu tháng 05/2021 Cụ thể, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) vừa điều chỉnh tăng nhẹ lãi suất huy động tháng 6 thêm 0,1%/năm tại các kỳ hạn 12 tháng, 24 tháng, 36 tháng lên lần lượt là 5,7-6,3-6,4%/năm.

Trong khi đó, lãi suất tiết kiệm tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) tăng từ 0,1-0,3%/năm với các kỳ hạn dài. Theo đó, lãi suất kỳ hạn 12 và 24 tháng lần lượt áp dụng là 5,8 và 6,55%/năm. Với kỳ hạn 36 tháng, lãi suất gửi tiền tại quầy là 6,4%/năm và gửi online là 6,6%/năm.

Mới đây, Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) vừa triển khai gói tài khoản Đắc Lộc với lãi suất cao nhất ở kỳ hạn 12 tháng là 6,5%/năm, cao hơn 0,5%/năm so với lãi suất gửi tiết kiệm truyền thống.

Tính chung trên toàn hệ thống, tới cuối tháng 5/2021, lãi suất huy động gần như đi ngang so với tháng 05/2021 với các kỳ hạn ngắn hạn dưới 6 tháng, song có biến động tăng giảm với các kỳ hạn trung và dài hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng và 12, 13 tháng. Cụ thể như bảng 7 dưới đây:

Bảng 7: Lãi suất tiền gửi của hệ thống ngân hàng thương mại tháng 06/2021

Kỳ hạn

Tháng 05/2021
(%/năm)

Tháng 06/2021
(%/năm)

Mức biến động (%/năm)

Kỳ hạn dưới 6 tháng

3,1 - 3,8

3,1 - 3,8

0,0

Kỳ hạn6 đến dưới 12 tháng

3,5 - 6,1

3,5 - 6,1

0,0

Kỳ hạn 12, 13 tháng

4,6 - 6,9

4,6 - 6,9

0,0

Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Ngân hàng Nhà nước

Tương tự như mặt bằng lãi suất huy động, mặt bằng lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với một số ngành lĩnh vực duy trì ổn định so với tháng trước ở mức 4,5%/năm.

Lãi suất trúng thầu của trái phiếu Kho bạc Nhà nướctháng 06/2021 chứng kiến sự biến động theo các kỳ hạn 5 năm, 10 năm, 15 năm, 20 năm, 30 năm so với tháng 05/2021 với xu thếgiảm tại phần lớn các kỳ hạn (trừ kỳ hạn 20 năm thì lãi suất tăng nhẹ 0,01%; trong khi kì hạn 30 năm, lãi suất giữ ổn định). Mức giảm lãi suất trúng thầu của trái phiếu Kho b

Trở lại
CÁC BÀI VIẾT KHÁC
40 triệu USD hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ (25/12/2010)
Các doanh nghiệp lớn ám ảnh bởi vụ Vinashin (25/12/2010)
Giá vàng và USD quay đầu giảm mạnh (22/02/2011)
Giá mặt bằng bán lẻ Hà Nội - TP HCM cùng hạ nhiệt (19/01/2011)
Vàng ‘rơi’ xuống đáy của 2 tháng (21/01/2011)
Thống đốc Ngân hàng giải trình về lãi suất, lạm phát (25/12/2010)
Vàng vượt 36,3 triệu đồng (15/02/2011)
Báo cáo tài chính nhà nước năm 2018 đang dần hoàn thiện (09/01/2020)
Mặt hàng nào giảm giá mạnh sau kì nghỉ lễ? (06/05/2011)
Nhà đất Hà Nội, Sài Gòn rục rịch giảm giá (23/05/2011)
Sữa nội vẫn chưa chịu giảm theo giá thế giới (31/05/2011)
Giảm mục tiêu tăng trưởng, nới chỉ tiêu lạm phát (06/06/2011)
Thị trường bán lẻ Việt Nam liên tiếp rớt hạng (08/06/2011)
Xe ngoại tăng mạnh trước thời điểm siết thủ tục nhập khẩu (27/06/2011)
Thu hút FDI giảm một nửa (28/06/2011)
Xem tiếp
 
 
         Tin tức & sự kiện mới
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2020 và dự báo 2021
Thông báo v/v nhận Hồ sơ đăng ký xét tuyển thẳng học sinh giỏi ở bậc THPT vào đại học chính quy Học viện Tài chính năm 2020
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2019 và dự báo cả 2020.
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam 6 tháng đầu năm và dự báo cả năm 2019.
Hội thảo Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2018 và dự báo 2019
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 11 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 10 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 9 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 8 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 7 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 6 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 5 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 4 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 3 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 2 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 1 năm 2021
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 12 năm 2020
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 11 năm 2020
Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 10 năm 2020
Báo cáo phân tích dự báo tháng 9 năm 2020
        Email
        Hình ảnh hoạt động
Khóa học Quản trị Tài chính (từ 14-16/7/2011)
Viện kỷ niệm 86 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam
Bế giảng khóa học Quản trị Tài chính (14/5/2011)
Khóa Quản trị Công ty ngày 7-9/4/2011
Bế giảng khóa học Quản trị Công ty (9/4/2011)
Xem toàn bộ

Viện Kinh tế - Tài chính

162 Nguyễn Văn Cừ - Long Biên - Hà Nội

ĐT: 024 39334139, Fax: 024 38252475

Email: vienkttc@hvtc.edu.vn