Chương trình đào tạo
Các khóa học ngắn hạn
Các khóa học dài hạn
Lịch tuyển sinh
Đăng ký trực tuyến
        Tin nóng
 
         Tìm kiếm thông tin
         Hỗ trợ trực tuyến
Phòng Tổng hợp
Phòng nghiên cứu Kinh tế - Tài chính
         Liên kết website
         Đối tác khách hàng
         Thông kê truy cập
Online: 3
Visited: 1146870
 
  

 

 

Báo cáo phân tính dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 5 năm 2022

1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2022 tăng 0,18% so với tháng trước và tăng 2,64% so với tháng 4/2021. Bình quân 4 tháng đầu năm 2022, CPI tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước

Theo số liệu vừa được công bố từ Tổng cục Thống kê, CPI tháng4/2022tăng0,18% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu là do:

Thứ nhất, giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tháng Tư tăng cao nhất với 1,16% so với tháng trước do giá dịch vụ du lịch trọn gói tăng 5,22% khi nhu cầu du lịch tăng trở lại.

Thứ hai, giá nhóm giáo dục tháng 4/2022 tăng 0,96% so với tháng trước do một số địa phương tăng học phí năm học 2021-2022 trở lại sau thời gian miễn, giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19 làm cho nhóm dịch vụ giáo dục tăng 1,07% so với tháng trước.

Thứ ba, giá nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tháng 4/2022 tăng 0,58% so với tháng trước chủ yếu do giá thép tăng; giá nguyên vật liệu đầu vào trong sản xuất xi măng như xăng dầu, than đá và một số vật liệu xây dựng khác cũng tăng cao như đá, cát, gạch xây dựng; giá gas và giá dầu hỏa tăng mạnh lần lượt là 2,63% và 7,25% so với tháng trước.

So với cùng kỳ năm ngoái, CPI tháng 4/2022 tăng 2,64%. Bình quân 4 tháng đầu năm 2022, CPI tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước.

 

CPI tháng 04/2022 so với

Bình quân 4 tháng đầu năm 2022 so với cùng kỳ năm trước

Tháng 4
năm 2021

Tháng 3
năm 2022

Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng

+2,64%

+0,18%

+2,1%

Nguyên nhân chính khiến CPI tháng 4/2022 tăng2,64% so với cùng kỳ năm trước là do:

Thứ nhất, giá nhóm giao thông tháng 4/2022 tăng cao nhất với 16,59% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung tăng 1,6 điểm phần trăm, trong đó giá xăng dầu tăng 48,92% do từ tháng 4/2021 đến nay giá xăng A95 tăng 8.830 đồng/lít; xăng E5 tăng 9.150 đồng/lít và dầu diezen tăng 11.030 đồng/lít.

Thứ hai, giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,73% chủ yếu do chi phí vận chuyển tăng và nguồn cung thuốc lá giảm.

Thứ ba, giá nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,72% do giá vật liệu xây dựng tăng.

Bên cạnh đó, một số yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI tháng 04/2022 đó là giá nhóm giáo dục giảm 2,31% do từ học kỳ I năm học 2021-2022, một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương miễn, giảm học phí trong đại dịch; giá nhóm bưu chính, viễn thông giảm 0,5% do giá phụ kiện điện thoại thông minh giảm.

Về lạm phát cơ bản (theo thước đo CPI loại trừ lương thực, thực phẩm, năng lượng và mặt hàng do nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục), tháng 04/2022 tăng 0,44% so với tháng trước, tăng 1,47% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 4 tháng đầu năm 2022, lạm phát cơ bản  tăng 0,97% so với cùng kỳ năm 2021, thấp hơn mức CPI bình quân chung (tăng 2,1%), điều này phản ánh biến động giá tiêu dùng chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm và giá xăng, dầu.

2. Dự báo

Dự báo CPI năm 2022 tăng trung bình 2,5% (+-0,5%).

Triển vọng lạm phát trong năm 2022 về cơ bản sẽ phụ thuộc vào hai yếu tố là tổng cầu và mức tăng giá các nhiên, nguyên vật liệu, đặc biệt là giá dầu thô trên thị trường thế giới.

Về tổng cầu, các hoạt động sản xuất kinh doanh, thu nhập và sức mua của người dân đang phục hồi trở lại trong thời gian tới. Tuy nhiên, sau 2 năm tăng trưởng thấp (GDP năm 2020 tăng 2,9% và năm 2021 tăng 2,6%), cho dù nền kinh tế trong năm 2022 tăng trưởng cao (do chỉ phải so sánh với nền thấp), thì sản lượng tuyệt đối của nền kinh tế trong năm nay sẽ vẫn ở dưới mức tiềm năng. Giả sử, nền kinh tế trong năm 2022 tăng trưởng với tốc độ 6,5% như kế hoạch đặt ra, thì tốc độ tăng trưởng trung bình của giai đoạn 2020-2022 mới chỉ đạt mức 4%, thấp hơn nhiều so với mức trung bình trong lịch sử.

Với việc sản lượng vẫn ở mức dưới tiềm năng, đà tăng của giá cả trong giai đoạn từ nay đến cuối năm sẽ bị hạn chế rất nhiều. Lạm phát cơ bản, do đó, nhiều khả năng sẽ vẫn ở mức thấp. Trong khi đó, kể từ năm 2016 đến nay, lạm phát cơ bản chỉ tăng trung bình 1,61%/năm. Tuy nhiên, với việc tổng cầu vẫn thấp hơn so với tiềm năng, lạm phát cơ bản trung bình trong năm 2022 có thể chỉ xoay quanh mức 1%.

Về giá xăng dầu, mặc dù có nhiều bất ổn do tình hình căng thẳng tại Ukraine chưa có hồi kết, nhưng trong trung hạn, nguồn cung dầu đá phiến đang tăng lên. Đồng thời Fed đã bắt đầu tăng lãi suất, kinh tế Mỹ nói riêng và kinh tế thế giới nói chung được dự báo sẽ tăng trưởng chậm lại. Trong khi đó kinh tế Trung Quốc cũng đang chịu ảnh hưởng tiêu cực từ việc dịch bệnh Covid-19 bùng phát trở lại. Với triển vọng tăng trưởng thấp hơn, nhu cầu về dầu thô trên thế giới cũng sẽ thấp hơn so với những tính toán trước đây.

Ngay cả khi giá dầu được duy trì ở mức cao như hiện nay, nhiều khả năng lạm phát tại Việt Nam trong năm 2022 vẫn được duy trì ở mức thấp. Nếu giả định giá dầu trong năm 2022 tăng trung bình 50% so với năm 2021 (trong giai đoạn từ năm 1987 đến nay chỉ có 2 năm giá dầu trung bình tăng hơn 50% là các năm 2000 và 2021), thì đóng góp của giá dầu vào mức tăng CPI tổng thể sẽ vào khoảng 1,5% như tính toán của Tổng cục Thống kê. Với kỳ vọng lạm phát cơ bản ở mức 1%, có thể dự báo rằng lạm phát CPI trung bình trong năm 2022 sẽ vào khoảng 2,5% (+-0,5%).

2. Dự báog bình quân của dầu thô và xăng dầu thành phẩm thế giới tháng 5/2022sẽ tăng từ 2-6% so với tháng 4/2022.

2.1. Thị trường thế giới:

Đầu tháng 4/2022, Tổ chức OPEC+ đã nhất trí tăng sản lượng dầu thô thêm 432.000thùng/ngày vào tháng 5/2022. Trước đó, trong tháng 3/2022, sản lượng dầu củaOPEC+ đã thấp hơn 1,45 triệu thùng/ngày so với mục tiêu OPEC+ đề ra do sản lượng của Nga bắt đầugiảmxuống.

Bên cạnh đó, nguồn cung bị thắt chặt khi Libya giảm sản lượng 550.000 thùng/ngày do các mỏ dầu chủ chốt và cảng xuất khẩu bị một số nhóm vũ trang phong tỏa. Nguồn cung có thể bị thắt chặthơn nữanếuEUápđặtlệnh cấmvậnđốivớidầucủaNga…

OPEC cắt giảm dự báo tăng trưởng nhu cầu dầu thế giới trong năm2022 do tác động của việc căng thẳng giữa Nga và Ukraine, lạm phát gia tăng cộng vớiviệc phong tỏa dịch Covid-19 tạiTrungQuốckhiến nhucầutiêuthụnhiênliệu giảm. OPEC dự báo nhu cầu thế giới sẽ chỉ tăng 3,67 triệu thùng/ngày vào năm 2022,giảm480.000 thùng/ngàysovớidự báotrướcđó.Tiêu thụ dầu thế giới dự kiến sẽ vượt mốc 100 triệu thùng/ngày trong quý III/2022.…

Giá dầu thô thế giới tháng 4/2022 biến động trong xu hướng giảm do triển vọngtăng trưởng kinh tế suy yếu cộng với lãi suất ở các nước tăng cao để kiềm chế lạm phát. Trong khi các lệnh phong toả Covid -19tại Trung Quốc khiến nhu cầu dầu tại quốc gia tiêu thụ hàng đầu thế giới giảm mạnh,dấylên longạinhucầunhiênliệu toàn thế giới sẽ giảm...

Diễn biến này làm cho:

- Giá dầu thô bình quân của 3 thị trường Brent, Dubai và West Texas  Intermediate tháng 4/2022 ở mức 103,41 USD/thùng (giảm7,99% so với tháng 3/2022);

- Giá xăng RON 95 bình quân tại thị trường Singapore tháng /2022 ở mức 126,86 USD/thùng (giảm3,26% so với tháng 3/2022).

2.2. Thị trường Việt Nam:

Tháng 4/2022, do giá xăng dầu thế giới biến động và Nhà nước điều chỉnh chính sách thuế môi trường đối với xăng dầu nên Liên Bộ Công Thương - Tài Chính đã điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu vào các ngày 01, 12 và 21/4/2022. Cụ thể, giá bán lẻ một số mặt hàng xăng dầu được điều chỉnh như trong bảng 1.

Bảng 1: Giá xăng dầu bán lẻ tại vùng 1 tháng 4/2022

 

Xăng RON 95-III (đồng/lít)

Xăng E5 RON 92-II (đồng/lít)

Dầu hỏa    2-K (đồng/lít)

Dầu Diesel 0,05S-II (đồng/lít)

Dầu Mazut 3,5S (đồng/kg)

Mức giá từ ngày 21/3/2022

29.190

28.330

22.240

23.630

20.420

Mức giá từ ngày 01/4/2022

28.150

27.300

23.760

25.080

20.920

Mức giá từ ngày 12/4/2022

27.310

26.470

23.020

24.380

20.920

Mức giá từ ngày 21/4/2022

27.990

27.130

23.820

25.350

21.800

Mức giá ngày 01/4 so với 21/3/2022

Số tuyệt đối

-1.040

-1.030

1.520

1.450

500

%

-3,56

-3,64

6,83

6,14

2,45

Mức giá ngày 12/4 so với 01/4/2022

Số tuyệt đối

-840

-830

-740

-700

0

%

-2,98

-3,04

-3,11

-2,79

0,00

Mức giá ngày 21/4 so với 12/4/2022

Số tuyệt đối

680

660

800

970

880

%

2,49

2,49

3,48

3,98

4,21

Mức giá ngày 21/4 so với 21/3/2022

Số tuyệt đối

-1.200

-1.200

1.580

1.720

1.380

%

-4,11

-4,24

7,10

7,28

6,76

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Petrolimex

Như vậy, giá xăng dầu vùng 1 được điều chỉnh vào ngày 21/4/2022 như sau: giá xăng RON 95-III là 27.990VND/lít (giảm1.200VND/lít, tương đương 4,11% so với cuối tháng 3/2022); giá xăng E5 RON 92-II là 27.130VND/lít (giảm1.200VND/lít, tương đương 4,24%); dầu hỏa là 23.820VND/lít (tăng 1.580VND/lít, tương đương 7,10%); dầu Diesel 0,05S-II là 25.350VND/lít (tăng 1.720VND/lít, tương đương 7,28%); dầu Mazut 3,5S là 21.800VND/kg (tăng 1.380VND/kg, tương đương 6,76%)…

Cùng với việc điều chỉnh giá xăng dầu, Liên Bộ Công Thương - Tài chính đã thực hiện mức trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu trong tháng 4/2022 như được nêu cụ thể ở bảng 2 và 3.

Bảng 2: Mức trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu tháng 4/2022

 

Xăng các loại (trừ xăng sinh học, đồng/lít)

Xăng E5 (đồng/lít)

Dầu hỏa (đồng/lít)

Diesel (đồng/lít)

Mazut các loại (đồng/kg)

Mức trích từ ngày 21/3/2022

50

200

300

400

0

Mức trích từ ngày 01/4/2022

200

250

0

100

0

Mức trích từ ngày 12/4/2022

650

550

350

500

0

Mức trích từ ngày 21/4/2022

500

400

100

100

0

Mức trích ngày 01/4 so với 21/3/2022

Số tuyệt đối

150

50

-300

-300

0

%

300,00

25,00

-100,00

-75,00

0,00

Mức trích ngày 12/4 so với 01/4/2022

Số tuyệt đối

450,00

300,00

350,00

400,00

0,00

%

225,00

120,00

400,00

0,00

Mức trích ngày 21/4 so với 12/4/2022

Số tuyệt đối

-150,00

-150,00

-250,00

-400,00

0,00

%

-23,08

-27,27

-71,43

-80,00

0,00

Mức trích ngày 21/4 so với 21/3/2022

Số tuyệt đối

450,00

200,00

-200,00

-300,00

0,00

%

900,00

100,00

-66,67

-75,00

0,00

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Liên Bộ Công Thương - Tài chính.

Bảng 3: Mức chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu tháng 4/2022

 

Xăng các loại (trừ xăng sinh học, đồng/lít)

Xăng E5 (đồng/lít)

Dầu hỏa (đồng/lít)

Diesel (đồng/lít)

Mazut các loại (đồng/kg)

Mức chi từ ngày 21/3/2022

0

0

0

0

0

Mức chi từ ngày 01/4/2022

0

0

500

0

0

Mức chi từ ngày 12/4/2022

0

0

0

0

481

Mức chi từ ngày 21/4/2022

0

0

0

0

250

Mức chi ngày 01/4 so với 21/3/2022

Số tuyệt đối

0

0

500

0

0

%

0,00

0,00

0,00

0,00

0,00

Mức chi ngày 12/4 so với 01/4/2022

Số tuyệt đối

0

0

-500

0

481

%

0,00

0,00

 -

0,00

 -

Mức chi ngày 21/4 so với 12/4/2022

Số tuyệt đối

0

0

0

0

-231

%

0,00

0,00

0,00

0,00

-48,02

Mức chi ngày 21/4 so với 21/3/2022

Số tuyệt đối

0

0

0

0

250

%

0,00

0,00

0,00

0,00

 -

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Liên Bộ Công Thương - Tài chính.

Như vậy so với cuối tháng 3/2022, tháng 4/2022 liên Bộ thực hiện tăng trích lập Quỹ bình ổn giá đối với các loại xăng, giảm trích lập quỹ đối với hầu hết các loại dầu (riêng Mazut vẫn để ở mức 0); không chi sử dụng quỹ đối với hầu hết các loạixăng dầu (chỉ còn chi sử dụng với Mazut)...

Dự báo: Giá dầu có thể sẽ giảm trong thời gian tới do triển vọng tăng trưởngkinhtếsuyyếu(IMFđãhạdựbáotăngtrưởngkinhtếtoàncầuchonăm2022vàcóthể hạ thấp hơn nữa nếu các nước phương Tây mở rộng các biện pháp trừng phạt đốivớiNgavì cuộctấncông vàoUkraine).Tuy nhiên thời gian tới nguồn cung dầu có thể thâm hụt lớn hơn do nguồn cungdầu thô từ Nga và Iran giảm mạnh, thậm chí còn cao hơn so với sự sụt giảm của nhucầu,cóthểkhiếngiádầuđảongượctăngtrởlại... Vì vậy, dự báo giá dầu thế giới bình quân tháng 5/2022 có thể sẽ tăng từ 2-6% so với tháng 4/2022.

3. Dự báo giá lợn hơi tháng 5/2022 sẽ tăng nhẹ so với tháng 4/2022, dao động ở mức 55.000-60.000 VND/kg.

Trong tháng 4/2022, giá lợn hơi cả nước có diễn biến tăng ở cả miền Nam và miền Bắc. Cụ thể.

Bảng 4: Giá lợn hơi ở Việt Nam tháng 4/2022 (VND/kg)

Khu vực

Tháng 4/2022

So với tháng 3/2022

So với tháng 4/2021

Miền Bắc

53.250-55.750

+1.500

-21.000

Miền Nam

53.250-55.500

+1.575

-19.650

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu vinanet.vn và nhachannuoi.vn

+ Tại miền Bắc: giá lợn hơi trung bình khoảng 53.250-55.750VND/kg, tăng1.500VND/kg so với tháng 3/2022.

+ Tại miền Nam: giá lợn hơi trung bình khoảng 53.250-55.500 VND/kg, tăng1.575VND/kg với tháng 3/2022.

Nguyên nhân: Nguyên nhân giá lợn hơi tăng trong tháng 4/2022 do ảnh hưởng của chi phí sản xuất tăng, đặc biệt là giá thức ăn chăn nuôi tăng cao trong thời gian qua và nhiều địa phương tiếp tục đón học sinh, sinh viên quay trở lại học trực tiếp đã góp phần tăng nhu cầu tiêu thụ thịt lợn…

Dự báo: Tháng 5/2022, giá thịt lợn hơi có thể sẽ tăng nhẹ, do sự dư thừa về nguồn cung đã giảm bớt và ảnh hưởng từ việc giá thức ăn chăn nuôi tăng trong thời gian qua... Vì vậy, trong tháng 5/2022, giá thịt lợn hơi sẽ có thể dao động trong vùng giá từ 55.000-60.000 VND/kg.

4. Dự báo tháng 5/2022 glúa gạo xuất khẩu trên thị trường gạo châu Á sẽ tăng từ 1-4% so với tháng 4/2022.

4.1. Giá xuất khẩu:

Tháng 4/2022 so với tháng 3/2022 trên thị trường thế giới, giá gạo ở các nước xuất khẩu lớn có diễn biến trái chiều. Cụ thể, giá gạo của một số nước được phản ánh như trong bảng 5 và đồ thị 5.

Bảng 5: Giá bình quân xuất khẩu gạo 5% tấm của Thái Lan, Ấn Độ và Việt Nam          tháng 4/2022

 

Gạo 5% tấm Thái Lan (USD/tấn)

Gạo 5% tấm

Ấn Độ (USD/tấn)

Gạo 5% tấm Việt Nam (USD/tấn)

Giá bình quân tháng 4/2021

475

391,5

496

Giá bình quân tháng 3/2022

412,2

371,8

411

Giá bình quân tháng 4/2022

416,4

364,8

414,8

Mức giá T4/2022

so với T3/2022

Số tuyệt đối

+4,2

-7

+3,8

%

+1,02

-1,88

+0,92

Mức giá T4/2022

so với 4/2021

Số tuyệt đối

- 58,6

- 26,7

- 81,2

%

- 12,34

- 6,82

- 16,37

Nguồn: Tính toán từ số liệu của FAO và Reuters

Nguyên nhân:

+ Tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm ở mức 414,5-418,3 USD/tấn, tăng 1,02% so tháng 3/2022. Giá gạo xuất khẩu của Thái Lan tăng do nhu cầu từ các thị trường như Iraq và Iran tăng và do mối quan hệ thương mại với Saudi Arbia được cải thiện.

+ Tại Ấn Độ, giá loại gạo đồ 5% tấm ở mức 362,8-366,8 USD/tấn, giảm 1,88% so với tháng 3/2022. Giá gạo xuất khẩu của Ấn Độ giảm nhẹ do nguồn cung gạo đã được cải thiện trong vài tuần qua và đồng Rupee yếu đi so với USD, mặc dù nhu cầu từ các khách hàng vẫn ổn định.

+ Tại Việt Nam, giá gạo 5% tấm ở mức 412-417,5 USD/tấn, tăng 0,92 % so với tháng 3/2022. Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng do chi phí sản xuất tăng (chủ yếu từ giá phân bón và thuốc trừ sâu tăng). Bên cạnh đó, chi phí vận chuyển cũng tăng do ảnh hưởng từ giá xăng dầu tăng trong thời gian qua…

4.2. Giá lúa gạo tại Việt Nam:

Trên thị trường nội địa tháng 4/2022, tại khu vực ĐBSCL, giá nhiều loại lúa, gạo có diễn tăng. Theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương: tại An Giang, lúa OM380 ở mức 5.500-5.600 VND/kg (tăng 40 VND/kg), lúa IR50404 ở mức 6.600 VND/kg (tăng 360 VND/kg); gạo thơm đặc sản Jasmine ở mức 15.000-16.000 VND/kg (tăng 400 VND/kg); gạo thường ở mức 11.330-12.330 VND/kg (tăng 330 VND/kg); riêng gạo hạt dài ở mức 18.000-19.000 VND/kg, không thay đổi so với tháng trước.

Bảng 6: Giá một số loại lúa gạo tại An Giang tháng 4/2022 (VND/kg)

Loại lúa gạo

Giá T4/2022

So với T3/2022

So với T4/2021

Lúa OM6976

5.460-5.560

+ 40

-

Lúa IR 50404 (lúa khô)

6.600

+ 360

- 400

Gạo thường

11.330-12.330

+330

+ 730

Gạo hạt dài

18.000-19.000

-

-

Gạo thơm Jasmine

15.000-16.000

+ 400

+1.000

Nguồn: Tổng hợp số liệu của Bộ NN&PTNN và thitruongnongsan.gov.vn

Dự báo: Tháng 5/2022 trên thị trường gạo châu Á, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 dần được kiểm soát khá tốt và nhu cầu mạnh hơn từ các thị trường như Trung Quốc, Bangladesh, Iran và Sri Lanka… Vì vậy, dự báo giá gạo xuất khẩu trên thị trường gạo châu Á trong tháng 5/2022 có thể sẽ tăng từ 1-4% so với tháng4/2022…

5. Dự báo tháng 5/2022 so tháng4/2022trên thị trường thế giới, gcà phê có thể sẽ tăng từ 1-3%, giá cà phê nội địa Việt Nam sẽ biến động theo xu hướng này.

5.1. Thị trường thế giới

Tháng 4/2022, giá cà phê Robusta và Arabica có diễn biến ổn định và tăng nhẹ:

- Tại thị trường New York và Bremen/Hamburg, giá cà phê Robusta bình quân ở mức 2,291 USD/kg (tăng 0,10% so tháng 3/2022);

- Tại thị trường New York và Bremen/Hamburg, giá cà phê Arabica bình quân ở mức 5,854 USD/kg (tăng 2,73% so tháng 3/2022). 

5.2. Thị trường Việt Nam

Trong tháng 4/2022 tại thị trường Việt Nam, giá cà phê có diễn biến tăng. Tính chung cả tháng 4/2022, giá cà phê Robusta ở mức 40.560-41.130 VND/kg (tăng 445 VND/kg so với tháng 3/2022).

Giá xuất khẩu cà phê bình quân trong nửa đầu tháng 4/2022 ước đạt mức 2.273 USD/tấn, giảm 1,94% so với tháng 3/2022 và tăng 22,4% so với cùng kỳ năm 2021.

Nguyên nhân:Trên thị trường thế giới, giá cà phê Arabica tăng trong tháng 4/2022 so với tháng trước do lo ngại nguồn cung bị thu hẹp khi khô hạn kéo dài tại các khu vực trồng cà phê trọng điểm của Brazil.

Giá cà phê thị trường nội địa trong tháng 4/2022 tăng nhẹso với tháng trước do chi phí vật tư, phân bón, đầu vào cho sản xuất tăng cao trong thời gian qua....

Dự báo: Trong tháng 5/2022, giá cà phê thế giới có thể sẽ tăng dođiều kiện thời tiết bất lợi ở một số vùng trọng điểm sản xuất cà phê ở Brazil; giá nguyên/nhiên vật liệu, chi phí trồng, chế biến, vận chuyển cà phê đều tăng do căng thẳng địa chính trị ở Đông Âu.Vì vậy dự báo tháng 5/2022 so với tháng 4/2022 trên thị trường thế giới, giá cà phê có thể sẽ tăng từ 1-3%. Giá cà phê trong nước có thể sẽ biến động theo xu hướng của giá cà phê thế giới...

6. Dự báo giá cao su tháng 5/2022 có thể sẽ giảm từ0-3% so với tháng 4/2022.

6.1. Thị trường thế giới

Tháng 4/2022, giá cao su TSR20 bình quân trên sàn giao dịch SICOM (Singapore) đạt1,70 USD/kg, giảm2,45% so với tháng 3/2022; giá cao su RSS3bình quân trên sàn giao dịch SICOM (Singapore) đạt2,09 USD/kg, giảm1,29% so tháng 3/2022.

6.2. Thị trường Việt Nam

Ở Việt Nam trong tháng 4/2022, giá mủ cao su nguyên liệu có biến động nhẹ so với tháng 3/2022. Tính chung cả tháng 4/2022, tại Bình Phước giá mủ cao su nguyên liệu được Công ty cao su Phú Riềng thu mua ở mức 335-345 VND/độ TSC (tăng 5 VND/độ TSC so với tháng 3/2022); tại Bình Dương, giá thu mua mủ cao su nguyên liệu của Công ty cao su Phước Hòa dao động ở mức 350 VND/độ TSC (tăng 2 VND/độ TSC so với tháng 3/2022).

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, giá cao su xuất khẩu của Việt Nam trong nửa đầu tháng 4/2022 trung bình ước đạt 1.811 USD/tấn (tăng 1,07% so với tháng 3/2022 và tăng 1,4% so với cùng kỳ năm 2021).

Nguyên nhân: Trong tháng 4/2022, giá cao su RSS3 và giá cao su TSR20 trên thị trường thế giới giảm so với tháng 3/2022 do tình trạng thiếu chip bán dẫn trong ngành sản xuất ô tô toàn cầu đang kìm hãm nhu cầu tiêu thụ cao su, khủng hoảng địa chính trị, tình trạng thiếu container, chi phí vận tải cao và thông quan chậm ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng cao su...

Dự báo: Tháng 5/2022, giá cao su có thể phục hồi do lo ngại về nguồn cung trên thị trường thiếu hụt theo mùa.Tình hình thời tiết tại các khu vực khai thác cao su thiên nhiên như Thái Lan, Malaysia, Việt Nam và bệnh rụng lá tại Thái Lan, Ấn Độcó thể làm giảm sản lượng cao su trong thời gian tới.Tuy nhiên, việc thiếu hụt chip bán dẫn vẫn ảnh hưởng đến ngành sản xuất ô tô toàn cầu, từ đó ảnh hưởng dây chuyền tới nhu cầu tiêu thụ cao su; tình trạng thiếu hụt container, chi phí vận tải cao và thông quan chậm khiến nhu cầu cao su bị tác độngsẽ kìm đà tăng của giá cao su trong thời gian tới… Vì vậy, dự báo giá cao su tự nhiên trong tháng 5/2022 có thể sẽ giảm từ 0-3% so với tháng4/2022.

7. Lãi suất trong tháng 05/2022 tiếp tục duy trì ổn định hoặc tăng nhẹ trong bối cảnh thị trường chứng khoán, vàng, tiền điện tử... đang có biến động khó lường và NHTW nhiều nước đang tiến hành thắt chặt tiền tệ.

7.1. Thế giới

Trước áp lực ngăn chặn lạm phát leo thang trong bối cảnh giá năng lượng tăng vọt khi căng thẳng Nga - Ukraine, Ngân hàng Trung ương các nước để nỏ khả năng thắt chặt chính sách tiền tệ nhằm làm dịu đi áp lực vật giá leo thang trong thời gian qua. Xu hướng thắt chặt tiền tệ được dự báo duy trì đến cuối năm 2022.

Sau khi nâng mức suất cơ bản hiện nay thêm 25 điểm cơ bản lên khoảng 0,25 - 0,5% sau phiên họp 16/3. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) để ngỏ khả năng tăng lãi suất cơ bản 0,5% trong phiên họp vào tháng 5/2022. Động thái mới này để kiềm chế lạm phát đang gia tăng với tốc độ nhanh nhất trong hơn 40 năm qua, và có thể khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế chững lại trong năm nay.

Ngày 14/4, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã quyết định giữ nguyên các mức lãi suất cơ bản đối với các hoạt động tái cấp vốn ở mức 0%, lãi suất cho vay ở mức 0,25% và lãi suất tiền gửi là âm 0,5% trong bối cảnh các nhà hoạch định chính sách cân nhắc giữa việc kìm hãm lạm phát tăng cao kỷ lục với triển vọng kinh tế ngày một xấu đi vì xung đột Nga - Ukraine. Các mức lãi suất chủ chốt này sẽ được duy trì cho tới khi đạt được mục tiêu lạm phát 2%. 

Trong khi đó, ngay sau quyết định hạ lãi suất cơ bản của Fed, ngày 17/3, bất chấp áp lực tăng trưởng hạ nhiệt và lạm phát gia tăng, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) vẫn kiên định giữ mức lãi suất cho vay một năm (LPR) không thay đổi ở mức 3,70%. Theo một cuộc khảo sát của hãng tin Reuters, vào ngày 20/4, lãi suất cho vay chuẩn đối với các ngân hàng thương mại của Trung Quốc có thể sẽ được hạ xuống mức ấn định hàng tháng, do Bắc Kinh thận trọng nới lỏng các điều kiện tiền tệ để hỗ trợ nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19.

7.2. Việt Nam

Với diễn biến chỉ số kinh tế vĩ mô vẫn được duy trì trong mục tiêu kiểm soát của Chính phủ trước tác động dịch Covid-19 và căng thẳng chính trị Nga – Ukraina, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn duy trì ổn định lãi suất cơ bản trong tháng 04/2022 như tháng 12/2020 nhằm tránh gây nhiều xáo trộn mục tiêu phục hồi sản xuất, kinh tế cuối năm 2021. Cụ thể:

-         Lãi suất tái cấp vốn: giữ ở mức 4,00%/năm;

-         Lãi suất tái chiết khấu: giữ ở mức 2,50%/năm;

-         Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng:giữ ở mức 5,00%/năm;

-         Lãi suất chào mua giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở:giữ ở mức 2,50%/năm.

Trong khi đó, một số loại lãi suất tiền gửi vẫn duy trì ổn định như tháng 9/2020:

-         Lãi suất đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng VND giữ ở mức 0,5%/năm;

-         Lãi suất đối với tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc bằng VND giữ ở mức 0%/năm;

-         Lãi suất tiền gửi bằng VND của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Quỹ tín dụng nhân dân và Tổ chức tài chính vi mô tại NHNN 0,8%/năm;

-         Lãi suất tiền gửi của Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại NHNN giảm còn 0,8%/năm.

Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng tháng 04/2022có diễn biến giảm mạnh, lần lượt ở mức 0,61%; 0,19% và 0,15% xuống mức đáy 1,51%; 2,08% và 2,37%/năm trong ngày 22/04. Tăng trưởng tín dụng tính tới cuối tháng 02/2022 đạt 2,65%, mức tăng tháng 02/2022 cao nhất trong 10 năm trở lại đây. Đồng thời, tăng trưởng tín dụng cũng cao hơn so với tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán (1,81%). Tiền gửi từ các tổ chức kinh tế tới cuối tháng 02/2022 tiếp tục ghi nhận mức giảm 0,16% so với cuối năm 2021, trong khi tiền gửi dân cư tăng 3,01%, 1 phần nhờ vào việc một số NHTM thực hiện tăng lãi suất cũng như các chương trình khuyến mại đầu năm để thu hút tiền gửi. Việc tín dụng tăng trưởng nhanh hơn trong khi tiền gửi từ các tổ chức kinh tế bị rút ra cho thấy nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp cao hơn trong bối cảnh nền kinh tế được mở cửa hoàn toàn trở lại. Điều này cũng phần nào lý giải vì sao thanh khoản hệ thống ngân hàng căng thẳng hơn trong thời gian qua.

Thêm vào đó, với gói cấp bù lãi suất 2% cho 2 năm 2022-2023 đang được hoàn thiện để triển khai với tổng quy mô lên tới 40 nghìn tỷ, tăng trưởng tín dụng trong thời gian tới cũng sẽ tiếp tục được đẩy mạnh và có thể đạt mức tăng 15% cho cả năm 2022.

Tính tới cuối tháng 4/2022, lãi suất huy độngcác kỳ hạn tăng trong khoảng 0,1 – 0,3%(bảng 7). Tăng trưởng tín dụng (tới ngày 31/3/2022) đạt 5,04%, mức cao nhất trong 10 năm qua. Tín dụng tăng mạnh đã khiến cho thanh khoản hệ thống ngân hàng có phần căng thẳn

Trở lại
CÁC BÀI VIẾT KHÁC
40 triệu USD hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ (25/12/2010)
Các doanh nghiệp lớn ám ảnh bởi vụ Vinashin (25/12/2010)
Giá vàng và USD quay đầu giảm mạnh (22/02/2011)
Giá mặt bằng bán lẻ Hà Nội - TP HCM cùng hạ nhiệt (19/01/2011)
Vàng ‘rơi’ xuống đáy của 2 tháng (21/01/2011)
Thống đốc Ngân hàng giải trình về lãi suất, lạm phát (25/12/2010)
Vàng vượt 36,3 triệu đồng (15/02/2011)
Báo cáo tài chính nhà nước năm 2018 đang dần hoàn thiện (09/01/2020)
Mặt hàng nào giảm giá mạnh sau kì nghỉ lễ? (06/05/2011)
Nhà đất Hà Nội, Sài Gòn rục rịch giảm giá (23/05/2011)
Sữa nội vẫn chưa chịu giảm theo giá thế giới (31/05/2011)
Giảm mục tiêu tăng trưởng, nới chỉ tiêu lạm phát (06/06/2011)
Thị trường bán lẻ Việt Nam liên tiếp rớt hạng (08/06/2011)
Xe ngoại tăng mạnh trước thời điểm siết thủ tục nhập khẩu (27/06/2011)
Thu hút FDI giảm một nửa (28/06/2011)
Xem tiếp
 
 
         Tin tức & sự kiện mới
Viện Kinh tế - Tài chính tổ chức hội thảo “Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2023 dự báo 2024
Báo cáo phân tích dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 07 năm 2023
Viện Kinh tế - Tài chính tổ chức thành công Hội thảo: “Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam 6 tháng đầu năm và dự báo cả năm 2023”
Viện Kinh tế - Tài chính tổ chức Hội nghị viên chức và tổng kết năm học 2022 - 2023
Báo cáo phân tích dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 06 năm 2023
Hội thảo: “Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam 6 tháng đầu năm và dự báo cả năm 2024”
Thư mời hội thảo khoa học
Viện Kinh tế - Tài chính tổ chức Hội nghị viên chức và tổng kết năm học 2023 - 2024
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH HỌP MẶT VÀ LÀM VIỆC VỚI ĐẠI HỌC CANADA WEST
Thư mời viết bài tham luận Hội thảo khoa học
Viện Kinh tế - Tài chính phối hợp cùng Viện CFA Hoa Kỳ và Học viện Smart Train tổ chức toạ đàm “Triển vọng nghề nghiệp trong ngành phân tích đầu tư tài chính”
Lễ ký thỏa thuận hợp tác giữa Viện kinh tế - Tài chính và Trường đại học công nghiệp dệt may Hà Nội
Viện Kinh tế - Tài chính ký Biên bản ghi nhớ hợp tác toàn diện với Tập Đoàn Đinh Lê
Chuỗi chia sẻ về tài chính toàn diện: Khởi đầu của hợp tác đào tạo và nghiên cứu giữa Viện Kinh tế - Tài chính, Học viện Tài chính và Tổ chức OXFAM tại Việt Nam
“Tập huấn cập nhật kiến thức mới về quản lý, sử dụng tài sản công năm 2023”
Báo cáo phân tích dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 03 năm 2023
Báo cáo phân tích dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 02 năm 2023
Báo cáo phân tích dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 01 năm 2023
Báo cáo phân tích dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 12 năm 2022
Báo cáo phân tích dự báo tình hình giá cả thị trường tháng 11 năm 2022
        Email
        Hình ảnh hoạt động
Khóa học Quản trị Tài chính (từ 14-16/7/2011)
Viện kỷ niệm 86 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam
Bế giảng khóa học Quản trị Tài chính (14/5/2011)
Khóa Quản trị Công ty ngày 7-9/4/2011
Bế giảng khóa học Quản trị Công ty (9/4/2011)
Xem toàn bộ

Viện Kinh tế - Tài chính

Số 179 Đội Cấn - Ba Đình - Hà Nội

ĐT: 024 3933 4139

Email: vienkttc@hvtc.edu.vn